Lê Thành Nghị: Chẳng đợi gì ngoài một giọng chim

Lê Thành Nghị bước vào làng văn bằng cả hai ngón nghề: thơ và lý luận phê bình. Tập thơ đầu tay "Rừng tràm cuối mùa đông" được xuất bản ở độ tuổi bốn mươi, không hẳn Lê Thành Nghị cầm bút muộn, bởi tuổi trẻ của ông còn phải rong ruổi làm bộ đội đánh Mỹ và bôn ba làm nghiên cứu sinh bên Nga. 

Những năm công tác tại Văn nghệ Quân đội, dường như Lê Thành Nghị được mặc định theo mảng lý luận phê bình, nhưng bạn đọc lại nhận ra chân dung ông nhờ những câu thơ. Đó không phải chuyện nhọc công gieo hồng chẳng nở hay chuyện vô tình gặp liễu xanh um, mà sự thành danh lĩnh vực chữ nghĩa phụ thuộc vào cốt cách của mỗi người. Đọc tác phẩm Lê Thành Nghị có thể hiểu được một người có lối sống mềm mỏng và ôn hòa.

Khi đã tri thiên mệnh, Lê Thành Nghị đắm đuối với thi ca hơn. Lần lượt các tập thơ "Mưa trong thành phố", "Mùa không gió", "Sông trôi không lời" xây đắp hành trình thơ Lê Thành Nghị bằng ba mảng nổi bật: thơ lính chiến, thơ thế sự, và thơ cảm tác. So với những nhà thơ cùng thế hệ, thơ lính chiến của Lê Thành Nghị không đậm nét lắm. Tuy nhiên, trong ba lô Đại tá Lê Thành Nghị vẫn chọn được ba bài tiêu biểu, mỗi bài lại có một đoạn tiêu biểu, để trích dẫn tương đối đĩnh đạc.

Bài "Mưa trong thành phố" râm ran kiểu thơ văn xuôi: "Mưa vẫn thế chẳng có gì khác lạ/ Nghìn năm rồi vẫn xuống từ mây/ Ta một thời trẻ măng đi cầm súng/ Qua bao nhiêu những trận sốt dài/ Chôn đồng đội trước một vòm núi dựng/ Mùa mưa rừng lo núi sạt, đá trôi/ Những đồng đội nhận về mình cái chết, biến mình thành hư vô/ Những đồng đội nhường ta sự sống, biến ta thành tự do/ Quay mặt về rừng mỗi lần nghe tiếng sấm/ Bao năm rồi còn sợ những cơn mưa".

Bài "Bên đài liệt sĩ vô danh" khắc họa chiến công bay bổng có yếu tố linh thiêng: "Những bát hương cháy lặng lẽ những chân hương/ Khói quẩn quanh trên từng bậc đá/ Cao hơn những bậc đá là trời xanh/ Cao hơn trời xanh/ là mãi mãi/ vô danh".

Và bài "Quảng Trị một thoáng mùa hè" ẩn dụ mạnh mẽ về lẽ trường tồn của sự hy sinh: "Thành Cổ nói gì mà cỏ khác thường xanh/ Mỗi lá cỏ một cây buồm, một lời thề, một ngọn nến/ Một linh hồn từ đất nhô lên".

Ở mảng thơ thế sự, dễ dàng thấy được bút pháp của một nhà phê bình làm thơ. Lê Thành Nghị từng nghĩ nhà phê bình "là người cầm đèn lặng lẽ đứng trong đêm", nên ông cầm ngọn đèn nghiêm ngắn và cẩn trọng bước sang sáng tác thi ca.

Nhiều bài thơ của Lê Thành Nghị có bóng dáng một bản đánh giá tác giả và tác phẩm. Ví dụ, viết về Nam Cao: "Có ai yêu cuộc đời hơn ông/ Ông vẽ lên một lũ nháo nhâng, những Bá Kiến, Binh Chức, Chí Phèo, Năm Thọ/ Rồi chính ông bị khai tử vì bàn tay chúng nó/ Cái hôm nào loạt súng váng sau đê/ Ông giết chúng bằng lời, chúng giết ông bằng đạn/ Cuộc hỗn chiến giữa nhân vật và nhà văn còn đến bao giờ?".

Cũng bởi thói quen rành mạch hóa văn bản, nhiều ý thơ của Lê Thành Nghị bị sự tuân thủ trật tự và lớp lang làm cho hao hụt cảm xúc mơ màng. Chẳng hạn, trong bài "Yên Tử", những câu run rẩy như "Gió lạnh thổi từ năm ngoái đến/ Tiếng chuông tê buốt cả mùa thu" đã bị che mờ bởi những câu kết tề chỉnh "Ta về ngơ ngẩn cùng tre trúc/ Kìa lối vào mây đến cửa thiền".

Một kỵ sĩ tôn thờ kỷ luật cứ ghìm chặt dây cương thì thiên lý mã cũng đành lốc cốc nước kiệu, chứ làm sao tung bốn vó trên thảo nguyên xa xanh vạn dặm. Và chính cái nề nếp khiến Lê Thành Nghị ít thành công khi viết thể thơ bốn câu vốn đòi hỏi nhiều sự lắt léo. Bài bốn câu tương đối thuyết phục may ra chỉ có "Lời thề", vì khi day dứt "Thuở nằm chơi trên cỏ/ Thề sẽ đánh cắp của thượng đế một ngôi sao tặng em/ Khi sắp nằm dưới cỏ/ Lời thề còn nguyên", Lê Thành Nghị đã đẩy bài thơ ra khỏi những ước hẹn yêu đương khó phai, để gián tiếp băn khoăn sự hữu hạn của cuộc đời, sự nhỏ bé của kiếp người.

Ở mảng thơ thế sự, còn thấy một nhà báo thao thiết Lê Thành Nghị. Có lẽ ông quá sốt ruột với những trái ngang, nên không ngăn được những niềm đau đáu cứ tràn xuống trang viết. Bài "Đêm ngoại thành" báo động quá trình đô thị hóa đầy nhục nhằn và nhiều mất mát.

Bài "Những người chết trẻ" lên án nạn lô đề khốc hại. Bài "Que diêm vi mô, cánh rừng vĩ mô và hư vô tro bụi" lại mạnh mẽ tranh đấu với thực trạng cháy rừng U Minh. Thậm chí bài "Lời giải thích của mưa" truy vấn trách nhiệm gây lụt lội tại Thủ đô, ông còn cẩn thận ghi chú "Trận mưa tại Hà Nội tháng 11-1984: 561 mm (ngập ít). Trận mưa tại Hà Nội tháng 8-2001: 139 mm (ngập trên diện rộng)". Tất nhiên, cách phản ánh quốc kế dân sinh của nhà thơ bao giờ cũng hấp dẫn hơn một bài xã luận tầm tầm bậc trung, nhưng hiệu quả thi ca hầu như khá khiêm tốn.

Tuy nhiên, biết dựa vào vần điệu nhịp nhàng, thì sự dũng cảm của một nhà thơ cũng được phát huy nhiều hơn một nhà báo đơn thuần. Dù không sắc sảo để định hình mảng thơ thế sự, nhưng nhà thơ Lê Thành Nghị cũng có hai suy tư hơi khó tìm được trên mặt báo: "Trong cuộc họp không ai ý kiến gì/ Bằng mặt dễ nhìn thấy, nhưng không bằng lòng không ai nhìn thấy/ Đến khi bỏ phiếu - gạch nát cả giấy" và "Mác viết: Con người hơn mọi loài trên thế gian/ Vì đôi khi còn biết ngẩng mặt nhìn trăng/ Cần phải ghi thêm vào đây một mệnh đề khác/ Và đôi khi nó còn biết bán mình!".

Bìa tập thơ “Mưa trong thành phố” của nhà thơ Lê Thành Nghị.
Bìa tập thơ “Mưa trong thành phố” của nhà thơ Lê Thành Nghị.

Lẽ thường, dao mài thì sắc, ngọc mài ắt sáng. Những thổn thức ngổn ngang của Lê Thành Nghị giúp ông có được mảng thơ cảm tác nhiều dư vị. Bám trụ trên tâm niệm "đôi khi có cảm giác cả dãy phố đang buồn/ thực ra chỉ có ta đang vác nỗi buồn qua phố", Lê Thành Nghị có nhiều câu thơ hay như "nghe gió thoảng biết cây vườn còn thức", "tháng mười nhẹ như cầm trên tay được" hoặc "tháp đứng trầm ngâm nghe gạch rụng/ những tiếng ngân dài giữa đêm sâu".

Thơ cảm tác của Lê Thành Nghị khởi đi khi ông dùng phẩm chất thi sĩ để gắn kết với mọi thứ xung quanh. Thử đọc chậm vài đoạn trích, sẽ hiểu thông tin ở câu trước được chuyển thành thơ ở câu sau như thế nào: "Nép dưới gốc bàng/ Mẹ ngồi bán hương/ Tóc bạc khói trầm ngan ngát", hoặc "Ngày bỗng nhiên dài, năm sao ngắn quá/ Sông cứ xiết về đêm", hoặc "Chiều muộn/ Lá rụng ngoài hiên/ Mưa đi trên mái/ Một vệt tiếng chim lấp loáng đèn".

Thơ cảm tác của Lê Thành Nghị vượt qua những ghi chép đời sống vì một sự vật hoặc một hiện tượng được thu nạp bằng đôi mắt nhưng được phân tích bằng trái tim. Ví dụ "bao lần qua, ngước nhìn, nàng vọng phu vẫn đó/ mỏi buồn không em?", một câu hỏi xuất hiện nơi đây, không chỉ sẻ chia người đàn bà hóa đá chờ chồng bất tận mù khơi, mà còn xao xác cho nhiều số phận phụ nữ lam lũ và chịu đựng!

Lê Thành Nghị dùng chữ cũ, dùng hình ảnh cũ, nhưng thỉnh thoảng bật sáng nhiều câu thơ mới mẻ, vì ông có khả năng mở rộng liên tưởng. Viết về rượu quê, Lê Thành Nghị không nhấn nhá sự la đà mà chú trọng sự thảng thốt: "Một chén mừng người đi xa về gặp em/ Đột ngột như tảng đá rơi từ đỉnh núi". Giọt rượu chưa rơi vào miệng đã rơi thẳng vào lòng, thật choáng váng, thật nghiêng ngả, thật thẳm sâu. Có lẽ câu thơ ấy là món quà xứ sở ân nghĩa dành tặng cho đứa con tha hương nặng nợ Lê Thành Nghị.

Thơ Lê Thành Nghị chậm buồn, luôn tạo được đồng điệu cho người đọc khi viết về sự bịn rịn không gian hoài niệm và sự lưu luyến phút giây nghìn trùng: "Cả rừng hoa hái chờ em ngày ấy/ Biết bao mùa còn trôi tím trong anh/ Đường xứ Lạng bến mê sau bóng núi/ Sông Kỳ Cùng nguyên một sắc chàm xanh" hoặc "Bâng quơ nhớ gió đưa mùi ổi chín/ Mây tần ngần trắng muốt phía sau cây/ Ai đi kia hay một làn voan mỏng/ Bóng thiên thu in xuống mặt hồ đầy".

Tư duy thơ Lê Thành Nghị chín dần qua những lần lật ngược lật xuôi từng ý nghĩ nôn nao. Để theo đuổi "một hồ sen đang cất cánh bay", ông viết nhiều những day dứt. "Bên hồ sen" đánh thức chiêm nghiệm của bản thân về cái đẹp.

Cùng một chủ thể trữ tình, lần thứ nhất viết "lá úa vàng hình như có làm cây buồn/ nhưng chính màu vàng làm nên vẻ đẹp của mùa thu", lần thứ hai viết "làm lá phải vàng là điều không muốn của mùa thu/ nhưng lá tự vàng vì mùa thu đẹp".

Sự thay đổi thái độ giữa hai lần giãi bày khác nhau cũng hé lộ sự chuyển dịch thẩm mỹ thi ca. Từ trong lắng đọng, thơ Lê Thành Nghị len lách vào độc giả bằng những rung động nhẹ nhàng: "Sông mất một đời trôi đi dại dột/ Tôi mất một đời để quên một người".

Sau nhiều năm tháng ôm ấp thi ca, Lê Thành Nghị đã tìm được phong cách riêng mình. Giọng điệu thủ thỉ với ngôn từ trang nhã giúp Lê Thành Nghị tiếp cận người yêu thơ ở thế kỷ 21: "Tôi đã bao lần ngồi trong nắng sớm/ Chẳng chờ đợi gì ngoài một giọng chim/ Tôi đã bao lần trên con đường vắng/ Chẳng chờ đợi gì ngoài khoảnh khắc lặng yên"!.

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...