Lê Quý Đôn và bài thơ rất nhiều thông tin

Đây là một trong khoảng ba trăm bài thơ viết trên đường đi sứ của Lê Quý Đôn. Biết bao câu chuyện lịch sử, văn hóa, văn chương, mà chỉ gói gọn trong một bài thơ sầm uất thông tin.

Dịch nghĩa:

TRÚ Ở HUYỆN LIÊU THÀNH,

NGẮM ĐÀI LỖ TRỌNG LIÊN

Vén bức màn, thấy tài danh,
Hàng ngàn chung đỉnh, như nhành cỏ khô.
Tiếng thơm Tắc Hạ tung hô,
Ai cùng trâu lửa giữ bời cõi thiêng?
Thuần Vu danh tiếng khắp miền,
Trọng Liên cao khiết, điền viên ẩn mình.
Nêu cao chính nghĩa biện minh,
Thư sinh nặng nghĩa vẹn tình, chí cao.

                                (VŨ BÌNH LỤC dịch)

Đây là bài thơ Lê Quý Đôn viết trên đường đi sứ sang Tàu, cụ thể hơn là viết trên đường trở về sau khi đã hoàn thành công việc triều kiến ở Yên Kinh (Bắc Kinh). Tác giả ngợi ca tài đức của Lỗ Trọng Liên, một danh sĩ người nước Tề ở thời Chiến Quốc.

Ở đây, huyện Liêu Thành thuộc nước Tề xưa kia, hiện có đài Lỗ Trọng Liên, để tưởng nhớ một kỳ nhân hiếm lạ của nước Tề thời Chiến Quốc. Lỗ Trọng Liên từng học ở học cung Tắc Hà, rất giỏi, nhưng ông chả thiết đến việc làm quan, chẳng màng đến công danh phú quý như bao người khác.

Lỗ tiên sinh rất giỏi về hùng biện, có tài biện thuyết, tranh tụng. Nhưng điều đặc sắc ở bậc kỳ nhân này, chính là việc ông đã dùng văn chương để đánh bại kẻ thù bằng chiến thuật “Tâm công”, buộc tướng địch phải chịu thua cuộc, tự sát.

Lê Quý Đôn và bài thơ rất nhiều thông tin -0
Tác giả và nhóm làm phim về danh nhân Lê Quý Đôn ở Văn Miếu Thăng Long.

Chả là bấy giờ, nước Tề bị liên quân nước Yên tiến đánh, thế lực như vũ bão. Gần như hầu hết thành trì của nước Tề đều bị liên quân nước Yên chiếm mất. Chỉ riêng còn có thành Tức Mặc, do tướng Điền Đan trấn giữ, cố thủ, không hàng. Quân Yên bao vây tứ bề. Điền Đan dùng kế liên hoàn chống lại liên quân do nước Yên cầm đầu. Quân Tề ở trong thành dùng đàn trâu xung trận. Điền Đan cho làm mồi lửa tẩm dầu, buộc vào đuôi từng con trâu, rồi châm lửa, lùa đàn trâu ra xung trận. Đàn trâu bị lửa đốt vào đít, chúng không thể chịu nổi. Chúng chen nhau từ cổng thành liều mạng xông ra, vùng chạy như điên. Quân Yên bất ngờ dính đòn rồng lửa như trời giáng, sợ hãi, tan vỡ. Điền Đan nhân đà thắng lợi, cho toàn quân dũng mãnh xông lên chiến đấu, đánh bại quân Yên, thu lại hơn 70 thành trước đó đã bị quân Yên cướp mất. Chỉ còn có Liêu thành, Điền Đan vây đánh ròng rã cả hai năm trời, tốn biết bao sinh mạng quân Tề, mà không sao thắng được.

Bấy giờ, Lỗ Trọng Liên liền viết thư cho viên tướng nước Yên trấn giữ Liêu Thành. Một viên tướng rất giỏi. Lỗ tiên sinh dùng văn chương, biện bác, để thuyết phục tướng Yên, phân tích cái lẽ phải thua của quân Yên, nêu cái lẽ tất thắng của quân Tề. Chỉ còn mỗi con đường là đầu hàng hoặc bị bắt mà thôi. Nhận được thư của Lỗ Trọng Liên, viên tướng nước Yên suy nghĩ lung lắm. Cuối cùng ông ta chọn con đường tự sát. Quân Tề thu lại được Liêu Thành, không tốn thêm một tên lính nào nữa.

Như thế, Điền Đan thu lại gần hết đất đai và thành trì từ tay liên quân Yên, nhưng bất lực trước Liêu Thành. Lỗ Trọng Liên dùng văn chương thực hiện được cái việc mà toàn bộ binh lực nước Tề không sao làm được. Chẳng phải văn chương có sức mạnh không thể cân đong đo đếm được hay sao? Chẳng phải là Lỗ Trọng Liên, ngay từ thời Chiến Quốc, đã dùng chiến thuật “tâm công”, tức đánh vào lòng người, tấn công vào ý chí của đối phương để giành thắng lợi một cách ngoạn mục đó sao?

Lý Bạch (701-762) ở đời nhà Đường, đã từng thay mặt vua Đường Huyền Tông viết thư chửi giặc, mà khiến đối phương phải từ bỏ ý chí cao ngạo. Số là, Lý Bạch lên Trường An dự thi Tiến sĩ, văn hay nhưng bị Lý Quốc Trung và Cao Lực Sĩ ghét, không cho đỗ. Lý Quốc Trung và Cao Lực Sĩ, chỉ là “quốc thích” và hoạn quan, nhưng nắm quyền lực lớn nhất trong triều. Thấy bài thi của Lý Bạch, ghét người, nên Quốc Trung và Cao Thái giám ghét luôn cả văn. Hai tên lộng thần chả cần đọc, phê luôn, đại ý, văn Lý Bạch chả ra gì, chỉ đáng là kẻ mài mực, thậm chí, chỉ đáng là kẻ tháo giày cho người khác mà thôi. Hạ Tri Chương, một nhà thơ nổi tiếng đang làm quan to trong triều, biết tài Lý Bạch, quý trọng Lý, mời Lý ở lại chơi ít ngày.

Bỗng một hôm, có viên sứ giả nước Phiên đem bức tối hậu thư, nội dung yêu sách vua Đường Huyền Tông một số vấn đề về đất đai, lãnh thổ gì đó. Nếu không chấp thuận, sẽ phải đối mặt với chiến tranh. Nhà Đường nhận quốc thư nước Phiên, mà cả triều đình không ai đọc được. Huyền Tông hẹn sứ giả sau 6 ngày sẽ trả lời. Vua yêu cầu Hàn Lâm viện giải mã bức thư, nhưng không có vị Viện sĩ nào đọc được thư ấy. Hạ Tri Chương buồn bã về nhà nói chuyện ấy với Lý Bạch.

Lý bảo: “Việc ấy khó gì”! Hóa ra, Lý Bạch đã được mẹ dạy cho biết chữ Phiên từ hồi còn nhỏ. Hạ Tri Chương mừng lắm, liền cấp tốc vào triều tâu với Huyền Tông. Huyền Tông cho vời Lý Bạch vào triều, nhưng Lý cố ý nấn ná tỏ ra không vội. Cuối cùng, Huyền Tông phải phong cho Lý Bạch học vị Tiến sĩ, đội mũ mặc áo Hàn Lâm học sĩ, Lý Bạch mới chịu vào triều.

Lý uống say, chếnh choáng đi vào. Thấy Lý Quốc Trung và Cao Lực Sĩ ở đó, Lý Bạch yêu cầu Huyền Tông bắt Lý Quốc Trung và Cao Lực Sĩ phải cởi giày, mài mực cho ông, rồi mới đọc thư Phiên và viết trả lời. Bất đắc dĩ, Dương Quý Phi phải bảo Dương Quốc Trung và Cao Lực Sĩ “chịu khó” cởi giày, mài mực cho Lý Bạch. Thỏa chí rồi, Lý vui vẻ đọc bức thư của nước Phiên, rồi cầm bút thay mặt Đường Huyền Tông thảo bức thư cho vua nước Phiên, tất nhiên là bằng chữ nước Phiên.

Viên sứ thần nước Phiên cầm bức thư do Lý Bạch viết, lời lẽ rất mạnh mẽ, chửi vua Phiên sao mà ngu thế, dám xúc phạm Thiên triều. Sứ Phiên giật mình. Ông ta biết nhà Đường còn có người tài giỏi, chưa thể trấn áp được, liền sợ hãi cáo lui, không dám yêu sách gì thêm nữa. Văn ấy, người đời bảo là “Văn chửi giặc”. “Văn chửi”, mà đánh bại được ý chí của đối phương đang có ý đồ thăm dò thử thách Đường triều.

Tuy nhiên, “chiến công” của Lỗ Trọng Liên, của Lý Bạch, so với chiến công của Nguyễn Trãi ở nước ta, thì cũng chưa thấm tháp gì.

Bấy giờ, quân Minh đang chiếm đóng nước ta. Chúng xây dựng 14 thành trì vững chắc ở những vị trí chiến lược trên toàn cõi. Nguyễn Trãi đã dùng thiên tài văn chương của mình để tiến công các thành trì của giặc Minh. Tưởng như câu chuyện viển vông, ảo tưởng. Nhưng kết quả là, 11 thành, trong số 14 thành do quân Minh chiếm đóng, đều lũ lượt ra hàng, “không tốn một mũi tên hòn đạn nào” (Đại Việt sử ký toàn thư). Chỉ còn có 3 thành, quân ta phải bao vây tiến công tiêu diệt. Khó khăn nhất là thành Xương Giang do Phạm Văn Xảo chỉ huy công thành, tốn biết bao xương máu mới thành công. Riêng thành Đông Đô (Thăng Long), Nguyễn Trãi phải đích thân vào gặp Tổng binh Vương Thông, vào ra không dưới 5 lần, để thuyết phục hắn. Trước đó, Nguyễn Trãi cũng đã nhiều lần viết thư cho Vương Thông, phân tích 6 điều hắn phải thua, đồng thời là 6 cái lẽ quân Đại Việt sẽ thắng. Cuối cùng, Vương Thông phải chấp nhận đầu hàng (danh nghĩa là nghị hòa), kết thúc cuộc chiến kéo dài hàng chục năm trời vô cùng gian khổ.

Ta đã khôn khéo kết hợp tiến công địch với chiến lược bao vây, diệt viện, vừa đánh vừa đàm, dần thay đổi cục diện trên chiến trường, buộc địch phải co cụm chờ viện binh. Những cuộc chiến dùng phục binh, tiêu diệt viện binh của quân Minh, thành công rất lớn, như Chi Lăng, Tốt Động v.v… góp phần chặn đứng hy vọng của Vương Thông và tướng lĩnh nhà Minh, khiến chúng buộc phải xin hàng.

Toàn bộ thư từ Nguyễn Trãi viết gửi cho các tướng nhà Minh, được tập hợp trong cuốn "Quân trung từ mệnh tập", vô giá. May mà chưa bị loạn thần nhà Hậu Lê tiêu hủy như các sáng tác của ông. Chúng ta rút ra những điểm quan trọng gì, khi đánh giá sức mạnh của văn chương trong chiến tranh? Nhà sử học Lê Quý Đôn (1726-1784) đánh giá về Nguyễn Trãi, đại ý “Viết thư, thảo hịch, tài giỏi hơn hết mọi thời”. Nhà sử học Phan Huy Chú (1782-1840) nhận xét “Văn chương Nguyễn Trãi có sức mạnh hơn mười vạn tinh binh”. Còn Nguyễn Mộng Tuân, đỗ Tiến sĩ cùng khoa với Nguyễn Trãi thì viết: “Người như ông tiên ở trong tòa ngọc / Cái tài làm hay làm đẹp cho nước, xưa nay chưa từng có bao giờ”. Xem xét mọi hoàn cảnh tạo nên thắng lợi, trộm nghĩ vài điểm:

Chính Lê Quý Đôn, trong chuyến đi sứ lên Yên Kinh cũng đã viết về sức mạnh của văn chương, rằng “Một hàng bút mực có thể dập tắt được can qua” (Nhất hàng bút nghiễn tức can qua). Đó là câu thơ trích trong bài thơ "Âm bình tảo phát" (Buổi sáng đi sớm từ Âm Bình)…

Đấy là chưa kể đến một áng “thiên cổ hùng văn”, muôn đời bất hủ, có tên là "Đại cáo bình Ngô", do Nguyễn Trãi viết thay Lê Lợi. Ở đây, Nguyễn Trãi đã chửi mắng vua nhà Minh là “Thằng nhãi con Tuyên Đức động binh không ngừng”! Thật là hả dạ! Vậy mà có kẻ muốn lăm le sửa đổi chữ “Triệu”, tức chỉ nhà Triệu (Triệu Đà, tức Triệu Vũ Đế) dựng nước Nam Việt của dân Bách Việt chúng ta đấy! Không có Nam Việt, thì làm gì có Đại Cồ Việt, Đại Việt, rồi Việt Nam hùng mạnh như ngày nay! Cái lý của trời đất xưa nay vẫn cứ “hồn nhiên tươi xanh” như vậy đấy!

Vũ Bình Lục

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.