Làng khoa bảng, đất danh hương giữa lòng Hà Nội

Làng Cót, Hà Nội (hay Kẻ Cót) là tên Nôm của làng Yên Quyết, có từ lâu đời, nằm bên bờ phải sông Tô Lịch, thuộc phường Yên Hòa, đoạn từ cầu Giấy trải suốt qua cầu Cót.

Thời Lý - Trần (thế kỷ XIII), nghề làm giấy du nhập, làng Cót phát triển thành hai vùng với sự phân công lao động rõ rệt: Nửa làng trên về phía bắc, gần cầu Giấy chuyên nghề làm giấy từ nguyên liệu vỏ cây dó. Nửa làng dưới ở phía Nam, bắt đầu từ cầu Cót trở xuống chuyên làm sản phẩm đầu ra của nghề giấy, là nghề làm vàng mã.

%3fnh 2- chùa làng cót.jpg -0
Chùa làng Cót, Hà Nội.

Dần dà, làng Yên Quyết (Kẻ Cót), tách thành hai làng: Thượng Yên Quyết và Hạ Yên Quyết. Chính vì có nghề làm giấy ở làng Thượng Yên Quyết, và ở làng Dịch Vọng Tiền kề bên, mà cây cầu nằm ở gần vùng giáp ranh giữa hai làng này có tên gọi là cầu Giấy. Làng Cót là đất có truyền thống học hành, khoa bảng, thời nào cũng có người đỗ đạt cao, là một trong hai mươi Làng khoa bảng danh giá của Việt Nam, và là một trong năm Làng khoa bảng của đất Thăng Long kinh kỳ.

Kẻ Cót - “Làng chiến đấu” một thời

Người dân làng Cót hiền hòa, chân thật, nhưng ẩn chứa bên trong tinh thần yêu nước mãnh liệt, ý chí chiến đấu kiên cường trong hai cuộc kháng chiến giữ nước. Đình làng Cót thờ 5 vị thánh, trong đó nổi bật là Đức thánh Cao Sơn Đại vương, người đã có công đánh đuổi giặc ngoại xâm, mang lại bình yên cho đất nước. Đình, chùa nơi đây còn lưu giữ nhiều di vật cổ có giá trị từ nhiều niên đại trước. Cùng với kiến trúc cổ kính và thần tích gắn với di tích, Đình và chùa làng Cót đã được xếp hạng di tích Lịch sử - Văn hóa cấp quốc gia (1994).

Trong kháng chiến chống Pháp, đình làng Cót là cơ sở bí mật của các cán bộ Việt Minh. Cùng với Miếu Chợ, Miếu Cả, Miếu Chùa của làng, nơi đây trở thành nơi tập kết của dân làng tham gia Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, là địa điểm học tập bí mật của Đoàn Thanh niên cứu quốc, nơi huấn luyện quân sự của tự vệ chiến đấu và du kích của làng. Tại Chùa Cót (Ngọc quán tự), năm 1945, các đoàn thể của mặt trận Việt Minh đã tổ chức quyên góp cứu tế tại chùa. Tối 18/8/1945, chùa Cót là nơi tổ chức mít tinh chào mừng chính quyền cách mạng.

Sau ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, chùa Cót là cơ sở tiếp tế cho bộ đội cùng tự vệ khu Đại La chiến đấu ở Cầu Giấy và Kim Mã. Trong kháng chiến chống chiến tranh phá hoại của Mỹ, năm 1965, dân công đã đắp hai bãi pháo cao xạ 100mm và đại liên 12,7mm ở phía bắc cầu Mọc và phía nam cầu Cót. Tháng 12/1972, chùa Cót được chọn làm Sở chỉ huy của chiến dịch tiêu diệt pháo đài bay B52, bảo vệ bầu trời Thủ đô. Từ các ụ pháo tại làng Cót, tự vệ và bộ đội đã đồng loạt nổ súng giòn giã, góp phần tiêu diệt máy bay Mỹ xâm nhập vùng trời Hà Nội từ phía tây nam Thủ đô.

Những danh sĩ làm rạng danh Kẻ Cót

Làng Cót là vùng đất có truyền thống hiếu học nằm trong “tứ danh hương” (Mỗ, La, Canh, Cót), hiện là làng khoa bảng duy nhất ở nội thành Hà Nội. Qua các triều đại phong kiến, làng Cót có 11 tiến sĩ, gần 30 hương cống và nhiều cử nhân, trong đó dòng họ Nguyễn Như Uyên có 5 tiến sĩ được khắc tên trên bia đá tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Hiện trong làng có nhà thờ của dòng họ các Tiến sĩ Hoàng Quán Chi, Nguyễn Như Uyên, Nguyễn Xuân Nham - là biểu tượng cho truyền thống học hành thành đạt của làng...

Cụ Nguyễn Như Uyên (SN 1436), từng đỗ Hoàng giáp, làm quan tới chức Thượng thư Bộ Lại, Chưởng lục Bộ sự (đứng đầu 6 Bộ) kiêm Quốc Tử Giám tế tửu (Hiệu trưởng Trường Quốc Tử Giám), Nhập thị Kinh Diên (vào cung giảng sách cho vua). Khi cụ về trí sĩ (về hưu), được phong tước Thái Bảo, Liêm Quận Công và được vua ban cho đất đai an cư lập nghiệp ở làng Cót.

Làng Cót có bốn dòng họ lớn: Nguyễn, Hoàng, Công, Doãn. Riêng họ Hoàng có nhiều người đỗ đạt, hiển vinh hơn cả, trong đó nổi bật là Tiến sĩ Hoàng Quán Chi, thời Nhà Trần làm quan đến Hình bộ Thượng thư, Thẩm hình viện. Con trai ông là Hoàng Công Tình tham gia khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo, được phong chức Chỉ huy sứ.

Hiện nay, tại khu đô thị mới Cầu Giấy có con phố mang tên Hoàng Quán Chi. Các thế hệ đời sau của cụ Hoàng Quán Chi liên tiếp có nhiều học giả, danh nhân nổi tiếng. Điển hình là gia đình cụ Hoàng Thúc Hội (1870 - 1938), con của cụ Hoàng Bá Chuân, một nhà nho yêu nước.

%3fnh 4.png -0
Truyền thống hiếu học từ thời xưa ở làng Cót.

Cụ Hoàng Thúc Hội đỗ Cử nhân khoa Bính Ngọ (1906), đạo đức và tài văn chương của cụ được nhiều sĩ phu kính trọng. Năm 1932, nhân dịp đền Hai Bà Trưng (Hà Nội) trùng tu, báo “Trung Bắc tân văn” mở cuộc thi thơ để kỷ niệm. Lần đó, bài thơ của cụ Hội đoạt giải nhất, được khắc vào bia đá của đền này. Cụ vinh dự có tên trong Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (NXB Khoa học xã hội, 1992).

Tiếp nối truyền thống, hai người con của cụ Hoàng Thúc Hội đều là những nhà trí thức có đóng góp lớn cho văn hóa dân tộc. Con trai lớn là Hoàng Thúc Trâm, bút danh Hoa Bằng (1902 -1977), Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, nhà nghiên cứu văn - sử học nổi tiếng, đã có những đóng góp đáng kể vào việc nghiên cứu văn hóa Việt Nam.

Hai công trình nổi bật của ông là “Quang Trung - Anh hùng dân tộc” và “Hồ Xuân Hương, nhà thơ cách mạng”. Sau 1954, ông công tác tại Ban Văn sử địa (Viện Sử học), sau chuyển về Ban Hán Nôm thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam. Hiện nay ở Cầu Giấy (Hà Nội) có phố Hoa Bằng, và Hải Châu (Đà Nẵng) có con đường mang tên Hoàng Thúc Trâm.

Con thứ của cụ Hội là ông Hoàng Thúc Tấn (1912 - 1986), là nhà kinh doanh sợi có tiếng ở Hà Nội. Ông cùng GS Vũ Đình Hòe, GS Hoàng Xuân Hãn... đồng sáng lập báo “Thanh Nghị”, tờ báo phổ biến kiến thức, thúc đẩy đấu tranh cho những tiến bộ xã hội. Con gái của cụ Hoàng Thúc Tấn là Hoàng Xuân Sính (SN 1933) là nhà quản lý giáo dục, nhà toán học, giáo sư, Nhà giáo Nhân dân. Bà là nữ giáo sư toán học đầu tiên của Việt Nam.

Hoàng Xuân Sính từng tốt nghiệp Đại học Toulouse (Pháp), về nước giảng dạy tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Năm 1975, bà bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ toán học tại Đại học Paris (Pháp). Bà có nhiều năm giảng dạy toán học và biên soạn sách giáo khoa đại học và phổ thông, từng là chủ nhiệm bộ môn Đại số kiêm trưởng khoa Toán - Tin tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Bà là thành viên sáng lập Trường Đại học Thăng Long, là Chủ tịch Hội đồng quản trị của trường (đại học tư thục đầu tiên của Việt Nam, 12/1988).

Bà từng là thành viên Hội đồng xét tặng Giải thưởng khoa học Kovalevskaya ở Việt Nam, từng là Phó Chủ tịch Đoàn chủ tịch Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa VI (2004), Ủy viên Hội đồng chính sách Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Ủy viên Hội đồng Giáo dục Quốc gia, Ủy viên Hội đồng biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam.

Sự thành đạt của người làng Cót một phần do làng ở gần Kinh đô, có nghề thủ công, buôn bán, kinh tế phát triển. Hơn nữa, từ thời xa xưa, làng Cót đã có một chế độ khuyến học thỏa đáng: Làng dành ra 3 mẫu ruộng “độc thư điền” để tặng cho người đỗ Tiến sĩ trở lên. Ngoài ra, làng còn thưởng ruộng cho cả những người đỗ cử nhân, tú tài. Chế độ khuyến học ưu việt đó thể hiện các cụ từ thời xa xưa đã hết sức coi trọng tri thức và giáo dục.

Làng Cót còn tự hào với tên tuổi nhạc sĩ Doãn Nho (SN 1933), là con của cụ Doãn Hưu, là cơ sở cách mạng trong kháng chiến của Đảng Cộng sản Đông Dương do đồng chí Vũ Oanh phụ trách. Sớm giác ngộ, năm 1944, Doãn Nho tham gia cách mạng, làm liên lạc thành Hà Nội. Ông nhập ngũ năm 1950, xuất ngũ năm 1997 với quân hàm Đại tá.

Ông là hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam (1957), Chiến sĩ thi đua toàn quốc (1958), là Tiến sĩ tại Học viện Âm nhạc Tchaikovsky (1981). Sự nghiệp âm nhạc của Doãn Nho được nhìn nhận trên ba mảng lớn: Thanh nhạc, khí nhạc và lí luận phê bình âm nhạc, lĩnh vực nào ông cũng rất thành công.

Ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học - Nghệ thuật (2001) với cụm tác phẩm: “Sóng Cửa Tùng”, “Tiến bước dưới quân kì”, “Năm anh em trên một chiếc xe tăng”, “Người con gái sông La”, “Chiếc khăn piêu”. Ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật (2017) cùng nhiều phần thưởng danh giá khác.

Để kết thúc, xin được mượn mấy câu thơ mang tính biền ngẫu của Nhà giáo Nguyễn Minh Vũ, người làng Cót, nguyên Chi hội trưởng Hội Khuyến học dòng họ Nguyễn của làng: “Nước nhà độc lập, khó khăn chồng chất, vẫn không quên việc học/ lòng luôn tâm niệm: Hiền tài là nguyên khí quốc gia/ Thế nước đi lên, đoàn kết toàn dân, vượt gian khó trùng trùng/ đuổi Pháp, thắng Mỹ, đưa non sông về liền một dải/ Sau Đổi mới, kinh tế cải thiện/ một trường mỗi cấp, lòng hiếu học luôn hướng tới tương lai”.

Hà Cầm Phong

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.