Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim Nắng triền sông nâng mãi nhịp xuân

Tập thơ đầu tay "Nắng triền sông" xuất bản năm 1981 của nhà thơ Nguyễn Thanh Kim là tập hợp những bài thơ ông đã viết từ hồi là phóng viên Đài Phát thanh tỉnh Hà Bắc và "lên đỉnh" khi ông tích cực tham gia ban trù bị thành lập Hội Văn nghệ Hà Bắc. Đó là quãng từ năm 1975 đến năm 1982.

Chả là tôi đã có lần "nhờ" nhà thơ Nguyễn Thanh Kim tìm tập thơ của nhà thơ Xuân Hồng (nhà thơ Xuân Hồng đã mất. Ông công tác ở Đài Phát thanh - Truyền hình Bắc Giang cũ). Trong tâm trí của tôi thì lần đầu gặp Xuân Hồng ấy là cuối tháng 2/1979. Chúng tôi đang dừng nghỉ bên thác nước thì gặp Xuân Hồng từ trên chốt đi xuống. Chàng lính trẻ Xuân Hồng ngồi nghỉ trên một hòn đá, anh tự đệm đàn guitar cho bài hát "Cao Ba Lanh mồ chôn quân bành trướng" mà anh mới nảy lên giai điệu.

Thế rồi từ "cái nợ" tìm thơ của bạn lính cho tôi, đã giúp tôi với nhà thơ Nguyễn Thanh Kim gần nhau nhiều hơn và cũng hiểu nhau nhiều hơn. Ở người đàn ông vốn quê gốc ở xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, nay là xã Nam Phù, Hà Nội này có gì đấy còn "đầy" sự chân chất và rất sâu đậm nét văn hóa miền Kinh Bắc.

3.jpg -1
Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim.

Tập thơ đầu tay "Nắng triền sông" xuất bản năm 1981 của nhà thơ Nguyễn Thanh Kim là tập hợp những bài thơ ông đã viết từ hồi là phóng viên Đài Phát thanh tỉnh Hà Bắc và "lên đỉnh" khi ông tích cực tham gia ban trù bị thành lập Hội Văn nghệ Hà Bắc. Đó là quãng từ năm 1975 đến năm 1982. Tập thơ đầu tay cũng là "chứng chỉ" để tác giả thơ trẻ Nguyễn Thanh Kim bước vào "giảng đường" khóa 2 Trường Viết văn Nguyễn Du danh giá (1982-1985).

Ra trường, cây thơ Nguyễn Thanh Kim lại trở về "quê nhà" Hà Bắc và công tác ở Hội Văn nghệ tỉnh thêm dăm năm rồi mới chính thức làm phóng viên, biên tập ở Báo Hà Bắc. Thời kỳ này ông đã được nhận các giải thưởng văn học như: Giải A về thơ do Hội Văn nghệ Hà Bắc trao; Giải B Giải Báo chí Ngô Gia Tự do Hội Nhà báo Hà Bắc trao.

Anh em trò chuyện vui vẻ nên tôi "mạnh dạn" hỏi: "Làm thế nào mà bác lại gắn bó sâu đậm với đất và người Kinh Bắc bền lâu đến thế?". Ông nhà thơ sinh năm 1948 (hơn tôi 9 tuổi) cười hóm: "Thì mình "quê" Kinh Bắc mà". Tôi hiểu "Kinh Bắc" mà ông nói chính là vùng đất của sông Cầu nước chảy lơ thơ và của sông Thương nước chảy đôi dòng. Vùng đất linh thiêng và tài hoa ấy đã "gieo sâu" vào lòng Nguyễn Thanh Kim những dấu ấn văn hóa và một tình yêu tha thiết.

Tuy quê gốc ở Thanh Trì, Hà Nội nhưng hai cụ thân sinh ra nhà thơ Nguyễn Thanh Kim đã sớm lập nghiệp ở đất Kinh Bắc. Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim kể rằng: "Gia đình tôi sống ở thị xã Bắc Ninh cũ. Cha mẹ tôi làm thợ thủ công, tuy nghèo lại có 6 người con, lại trong kháng chiến chống Pháp nữa. Vậy mà, mấy người anh em chúng tôi đều được cha mẹ cho ăn học và cùng đam mê đeo đuổi văn chương nghệ thuật".

Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim còn cho biết thêm: "Cha mẹ tôi có nghề làm mũ cát và khăn xếp quan họ. Những chiếc mũ cát và khăn xếp quan họ tuy thủ công thôi nhưng đó lại là tất cả của sự khéo tay của cha tôi và nét đảm đang thêu thùa khâu vá của mẹ tôi. Có lẽ, sự tảo tần và chăm chỉ ấy đã cho tôi điều người đời gọi là cần mẫn và kiên trì".

Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim tên thật là Nguyễn Kim Thành, có lẽ bút danh Nguyễn Thanh Kim chỉ là cách nói lái mà thôi. Ông bảo rằng: "Tôi đến với nghiệp thơ cũng từ thói quen, ham mê đọc sách từ nhỏ". Được hay, ông sinh ra ở thị xã Bắc Ninh, may mắn có được một người hàng xóm là nhà thơ Anh Vũ, gia đình nhà thơ Anh Vũ có cả một tủ sách lớn trong nhà và cậu Kim đã tha hồ "ngụp lặn" trong cả thế giới ngàn cuốn sách đó để thỏa cơn nghiền đọc sách.

Ông đọc tất cả những gì có trong tủ sách đó, từ sách kiếm hiệp, triết học, tôn giáo, tới sách thơ, sách văn của nhiều tác giả trong và ngoài nước. Thế rồi cậu Kim Thành "tập tọng" làm thơ. Khi làm thơ xong thì nhờ nhà thơ đàn anh Anh Vũ góp ý, rồi sau đó mạnh dạn gửi Báo Văn nghệ Hà Bắc đăng.

Ở Trường cấp 3 Hàn Thuyên, Bắc Ninh, cho đến giờ các thế hệ thầy cô và học trò còn nhắc về cậu học trò Nguyễn Thanh Kim "tài thơ" nhất trường, nhất lớp. (Thời học trò cấp 3 ấy, cậu học trò Nguyễn Kim Thành từng đoạt Giải nhất Cuộc thi thơ của Trường cấp 3 Hàn Thuyên, Bắc Ninh).

Tôi bảo: "Bác còn nhớ bài thơ thuở học trò nào không?". Ông nhà thơ đã ngoại thất thập gật đầu nói luôn: "Nhớ chứ". Rồi ông trầm ngâm đọc cho tôi nghe: "Thầy chăm những suối con/ Trở thành sông bát ngát/ Thầy chăm những mầm non/ Vươn lên cành cứng cáp" (Thầy giáo em).

Nếu như ở bài "Nắng triền sông" cây bút thơ trẻ Nguyễn Thanh Kim đã viết: "Anh đi trong lời ca ấy/ Lời ca nắng xanh triền sông" thì chỉ một năm sau chính cây bút thơ đầy "hăm hở" ấy cho trình làng "Sông xuân đất bãi" - 1982, rồi "Trăng soi thật mình" - 1989, rồi "Cánh diều" - 1990... toàn là những bài thơ với những câu thơ "dạt dào" tình quê Kinh Bắc. Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim bảo: "Tôi nhớ Kinh Bắc mỗi đêm ông ạ". Và, ông đọc: "Câu ca một thuở qua rồi/ Như phù sa lấp một thời trong tôi/ Mà xanh ngút ngát bãi bồi/ Dâu lên tằm chín ửng trời bên sông" (Nghe trong câu hát tằm tơ).

1.jpg -0
Bìa “Nhịp xuân”, tập thơ mới nhất của nhà thơ Nguyễn Thanh Kim và bìa cuốn sách về “Hồi ức văn chương và tiểu luận”.

Tôi tin điều ông nói, đấy năm 1998 đấy, nghĩa là khi ông đã "định cư" trên đất Hà thành được 2 năm, thì ông xuất bản tập thơ "Nẻo nhớ" - 1998 (Năm 1996 nhà thơ Nguyễn Thanh Kim chuyển công tác về Báo Sức khỏe và Đời sống, Bộ Y tế). Hồn thơ ở "Nẻo nhớ" của ông cứ da diết, cứ trào lên, cứ thắm đượm: "Chiêm bao ba nhịp cầu duyên/ Gần kề gang tấc, xa biền biệt xa" (Chiêm bao).

Làm thơ song hành cùng nghề báo, cứ tưởng chuyện "cơm áo gạo tiền" lấn hết thời gian, chi phối tâm hồn vậy mà cứ "tằng tằng", cứ đều đều, ông nhà thơ "xứ Kinh Bắc" này đã xuất bản hơn 30 đầu sách, trong đó tập thơ chiếm đa số với hơn 20 tập. Tôi bảo: "Bác làm thơ bền như chính con người mình vậy". Rồi, tôi đọc một câu thơ trong tập thơ mới tỉnh tình tinh của ông, tập "Nhịp xuân", NXB Văn học, 2025. "Kể chi nước chảy qua cầu/ ước ta kết một nhịp cầu luyến thương" (Kể chi).

Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim sâu đậm là như vậy đó, cho đến giờ ông vẫn còn "điều ước" giản dị của mình, bất kể tháng năm trôi, bất kể dòng đời trôi chảy. Chính vì vậy mà dù tuổi cao nhưng "sức viết" của nhà thơ Nguyễn Thanh Kim vẫn đều đều tuôn chảy. Dăm bảy năm trở lại đây chốc chốc tôi lại nhận được "quà tặng" từ nhà thơ, đó là những tập thơ mới ra lò. Vui là lần nào tặng sách ông cũng gọi điện trước kiểu "thông báo" để tôi khỏi bất ngờ.

Mà cũng "bất ngờ" thật, bởi "nguồn thơ" trong con người Nguyễn Thanh Kim dường như chẳng khi nào nguôi cạn. Với "tinh thần" sâu đậm nét văn nết người Kinh Bắc, thơ của Nguyễn Thanh Kim luôn đem đến "cái nhìn" mới cho "dòng văn hóa" ngàn đời xứ Kinh Bắc. Ông đã viết: "Em thuở bến quê níu câu thề/ chèo khuya mái đẩy trăng sông nước/ ta - trai phố thị dưới mái che/ chụm đầu hai đứa gieo nguyện ước" (Duyên quê). Mới hay, cho dù "phố thị" xa xôi là vậy, cho dù tháng năm dằng dặc là vậy, thế mà "duyên quê" Kinh Bắc vẫn "gieo nguyện ước" trong tâm hồn người thơ Nguyễn Thanh Kim.

Đúng vậy "Nẻo quê nào kể đâu xa/ ngước trông cõi gạo thiết tha bóng làng/ hồn quê thuở ấy đa mang/ có người em gái rỡ ràng nhặt hoa" (Hoa gạo bóng làng).  Ở "nẻo quê" này, nét tài hoa đậm chất Kinh Bắc trong ông được "bộc lộ" trong hai chữ "rỡ ràng", phải là người tinh tế lắm và cũng "quê" lắm mới có được hai chữ "rỡ ràng" không "chạm ai".

Văn hóa Kinh Bắc trong thơ Nguyễn Thanh Kim, chí ít là với tập "Nhịp xuân" mới xuất bản, cho dù mảnh đất này đã "đô thị hóa" rất nhiều, đã công nghiệp hóa" rất nhiều nhưng còn được Nguyễn Thanh Kim "lưu lại" trong tâm hồn. "Có gì nhớ, có gì thương/ có chi vấn vít mà lương vương hoài/ tạnh cơn mưa ấy hoai hoai/ ruộng ải men đất thơm ngoài đồng ta" (Khói bếp).

Lại phải "khen" ông thêm lần nữa, hình như Nguyễn Thanh Kim còn là một nhà ngôn ngữ học thì phải? Trong câu thơ của mình, ông luôn "cho ra đời" những chữ, những từ đầy chất quê (theo thiển nghĩ của tôi thì đấy phải là chất quê Kinh Bắc?). Chữ "lương vương hoài", rồi chữ "hoai hoai" đúng phải là "người quê" mới biết, mới thấy nó gần gụi, mới thấy hay hay, mới thấy riêng riêng. "Lời tỏ tình trong gió/ Có tan như mây chiều/ Giọng em dìu dặt thế/ Sương mờ anh tím theo" (Lời tỏ).

Tôi xin được dẫn hai câu thơ cuối trong bài thơ "Gặp gỡ sông Thương" trong tập "Nhịp xuân" có tới 61 bài, để "nói thay" ông nhà thơ còn nhiều "đắm đuối" với "hồn Kinh Bắc", xin dẫn: "Sông Thương xuôi ngược, sóng đỉnh nguồn/ ráng chiều hắt nắng, bóng chiều buông".

Nguyễn Trọng Văn

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).