Lão nông thi sĩ

Với tôi, Tô Thi Vân thực sự vừa là thi sĩ vừa là một lão nông dân đáng yêu và đáng kính cả về nhân cách và tài năng. Một lão nông thi sĩ chứ không phải chỉ biết làm thơ. Người làm thơ thì nhiều, làm thơ hay cũng có thể nhiều, nhưng là một thi sĩ chắc không có nhiều. Một thi sĩ mà chẳng cần màng, chẳng cần biết mình là thi sĩ. Vì trong ông không có tâm sở đắc. Ông sống nhi nhiên đến hồn hậu, như trẻ thơ, như cỏ cây hoa dại ven sông Đáy quê nhà.

Tô Thi Vân cứ lặng lẽ sống như vậy nên ông cũng viết như vậy. Dễ mà khó. Không màu mè. Không diễn từ. Không phù thủy chữ nghĩa như bao bạn bè đồng nghiệp. Bởi như thế ông mới thực là ông. Đó mới là giá trị ông cần. Thiết nghĩ, cũng là giá trị nhân sinh này nên có. Ngay từ buổi đầu đọc thơ Tô Thi Vân tôi đã bị cuốn hút. Tôi như được thoát xác khỏi thực tại với rất nhiều sở cầu xâm chiếm. Những câu thơ của Tô Thi Vân kéo tôi về với bản thể của mình, của nhân sinh, của tự nhiên bao la, của những yêu thương và khát vọng.

Ngôn ngữ thơ của Tô Thi Vân mộc mạc trong sáng. Hình ảnh trong thơ của Tô Thi Vân đẹp một cách dân dã mà đầy trí huệ, bởi trong đó chứa đựng yêu thương. Vẫn biết, cái sự “yêu thương” ai cũng có thể nói, có thể viết, có thể diễn, nhưng không thể lừa dối được bằng chữ nghĩa, bởi anh có thể lừa được vạn người nhưng không thể lừa được một người. Chữ nghĩa của Tô Thi Vân đã đạt như thị, nhưng không bị cũ, thậm chí là mới. Mà đã như thị thì mới mà như không.

Lẽ thường người cầm bút hay có tham vọng lập ngôn, mong tìm kiếm cho được cái danh gì đó, kiếm tìm sự nể trọng tung hô từ bên ngoài, nhưng Tô Thi Vân không có mong cầu ấy. Bởi khi anh khởi điều đó thì không còn là ngôn và danh đó nữa, vì đã sở cầu dính chấp. Tô Thi Vân quay vào bên trong nội tâm, nương tựa vào chính mình, sống thực với con người mình trong từng thời khắc, để có được sự bình an bền vững. Thuở xưa đức Như Lai đã từng nói: “Nếu hành giả hiện tiền còn phần nào chấp mình có chứng duy thức, thì chưa phải thật chứng duy thức, vì còn vọng chấp có sở đắc”.

nhà thơ tô thy vân.jpg -0
Nhà thơ Tô Thi Vân.

Trước khi đến thăm Tô Thi Vân ở làng Tê Quả, tôi đã có những hình dung về một làng quê Bắc Bộ thật đẹp, thật bình yên mà ông nói đến trong thơ. Tô Thi Vân viết về cha mẹ, về vợ con, về những người nông dân làng ông, viết về cảnh làng quê bình dị đã gắn bó cuộc đời ông, nuôi dưỡng tâm hồn ông, bằng một giọng thơ trong sáng, giàu hình ảnh, như dẫn dắt người đọc bước vào đời sống đó, cảnh vật đó một cách tự nhiên nhất. Với tôi, có lẽ Tô Thi Vân là một trong số ít nhà thơ đương đại viết về làng quê một cách nhi nhiên hay và cuốn hút đến vậy.

Hãy thử đọc Tô thi Vân viết về cha mình:

Cha ơi!
Con châm đóm rồi
Con mời cha hút
Mong cha đừng quá say
Điếu thuốc lào đầu tiên trong ngày
Cha thả khói con cay cay mắt

…..

Cha ơi!
Đóm trên tay con cuộn cháy
Mặc ngoài đời gió lay

(Buổi sớm)

Hình ảnh người con châm đóm cho cha hút thuốc lào rất đỗi thân quen, đời thường, nhưng đã vẽ lên một đời sống nông thôn, một gia phong nề nếp, đầy lễ nghĩa, yêu thương. Và cao trào của bài thơ được đẩy lên đến cùng ở những câu thơ cuối “Cha ơi/ Đóm trên tay con cuộn cháy? Mặc ngoài đời gió lay”. Đầy chất thơ, đầy triết học, và làm đậm nét thêm về hiếu nghĩa của người con đối với cha, khiến người đọc không khỏi thổn thức, xúc động. Cho dù thế cuộc có đổi thay, cuộc đời lắm nhiễu nhương, đời sống gặp nhiều sóng gió thì đạo hiếu, gia phong, tình cảm gia đình, nếp nhà vẫn phải giữ. Đọc đến đây chúng ta phải ngả mũ bái phục trước một thi ảnh đẹp, giản dị, thâm sâu và tài hoa đến thế.

Còn đây, khi Tô Thi Vân viết về mẹ:

Mẹ ngồi chõng tre nhìn theo chiều
Bóng mẹ trùm lên chiếc bị cói và hộp kim chỉ
Trong tay mẹ chiếc áo vá dở
Trong tay mẹ cái kim nắng vàng

…….

Mẹ ơi!
Chiếc bị đựng mụn vá và hộp kim chỉ bao năm rồi bên Mẹ
Những tấm áo, những mảnh đời cháu con nhói đau lòng Mẹ
Những đứa cháu ríu rít đòi xâu kim
Chiều lắng nghe
Dường như chiều quên…

(Chiều bên mẹ)

Vẫn là những chữ nghĩa, thi ảnh giản dị chân thật đến tận gan ruột mà ấm áp, đầy yêu thương của con cháu dành cho mẹ, cho bà và tấm lòng thơm thảo, đức hy sinh của người bà, người mẹ dành cho con cháu. Và, một lần nữa sự tài tình của Tô Thi Vân lại được thể hiện ở những câu thơ cuối bài. Đây là một chủ ý nghệ thuật rất rõ của Tô Thi Vân, khi ta bắt gặp được điều này ở trong hầu hết các bài thơ khác của ông. Những câu thơ kết bài của Tô Thi Vân luôn mang giá trị tư tưởng, là sức nặng cho toàn bài thơ. Trong bài thơ “Chiều bên mẹ” cũng vậy, ở những câu thơ cuối có gì đó thấm đẫm buồn thương, xa xót, nhớ nhung, bâng khuâng, tiếc nuối đã gieo vào lòng người đọc nỗi da diết khôn nguôi.

Rồi một ngày, tôi đến thăm nhà thơ Tô Thi Vân ở làng Tê Quả. Ngôi nhà của ông nằm trong một con ngõ nhỏ. Một con ngõ giống như bao con ngõ ở trung tâm thành phố. Tô Thi Vân bảo: “Làng quê của anh đấy em, giờ không còn lại dáng vẻ gì của ngày xưa nữa”. Hiểu được tâm trạng đó của ông, tôi bảo: “Cuộc sống là vậy mà anh, mọi sự vô thường. Đến lòng người ngày nay còn khác trước nói gì đến cảnh vật”.

Nhưng dẫu sao ông đã làm được một việc đầy ý nghĩa mà mai sau người dân làng Tê Quả sẽ ghi nhớ và trân trọng. Đó là ông đã ghi chép, đã vẽ lại khung cảnh làng quê bằng những bài thơ thật hay thật đẹp cho những thế hệ sau trên mảnh đất này có thể được thấy lại. Những bài thơ đó cũng chính là một phần lịch sử đã được ghi chép của làng Tê Quả này.

Đi qua khoảng sân nhỏ, với những chum vại đựng tương, chậu cây cảnh để bước vào căn nhà khung gỗ, tôi cảm nhận được ngay một nếp nhà nông thôn Bắc bộ vẫn còn được nhà thơ Tô Thi Vân lưu giữ qua những đồ vật trong nhà, như: bàn thờ, bộ trường kỷ, tủ, cái sập, những hoành phi câu đối từ thời các cụ để lại. Thực chất ngay từ chính con người Tô Thi Vân đã toát lên một đời sống đấy. Ông chính là một bảo tàng sống, là hiện thân của những nét đẹp văn hóa truyền thống của làng quê này. Sáu người con của vợ chồng ông gồm năm gái một trai đều đã phương trưởng có gia đình và ở riêng, chỉ còn hai ông bà cùng một chú chó sống lặng lẽ, thanh bạch trong nếp nhà cũ. Vợ ông, một người phụ nữ đẹp phúc hậu, mang đầy đủ phẩm chất đẹp đẽ nhất của người phụ nữ nông thôn Bắc Bộ, chịu thương chịu khó, chăm lo chồng con, hết việc nhà đến việc ruộng vườn, đồng áng, rồi việc của làng xã, láng giềng, ai nhờ cậy bà đều tận tình vui vẻ đến giúp. Tô Thi Vân bảo: “Nếu không có bà Thịnh thì anh cũng chẳng thể ngồi làm thơ được em ạ. Một tay bà ấy lo liệu cả”.

Nếu ai đã từng tiếp xúc với Tô Thi Vân sẽ cảm nhận được một sự bình yên mà ông đem lại cho người đối diện. Ông cứ thâm trầm thủ thỉ, ân nghĩa và sâu sắc. Có cảm tưởng như ông không dám, không nỡ làm đau cả một nhành cây ngọn cỏ.

Sự hiền lành tử tế, đúng hơn là đức bao dung nhân hậu, biết buông bỏ đã giúp nhà thơ Tô Thi Vân tìm thấy được nơi an trú trong tâm hồn mình. Đôi khi những ký ức đẹp đẽ xưa cũ cũng tìm về trong ông. Giờ ông đã biết chấp nhận, nhưng vẫn lưu giữ những kỉ niệm đó như để làm nguồn sống nuôi dưỡng tâm hồn mình. Ta hãy thử trở về với làng quê của ông trước đây trong thơ:

Cố hương!

Tháng ba ơi! Hoa gạo đỏ sân đình mê mải cỏ
Mắt trẻ mắt chim tươi nắng gió
Cánh diều vút bổng lưng trâu
Những trận mưa rào cá rô rạch phồng mang leo sấm
Mùa thu
Ta ngắt mùa thu hương nếp thơm đồng
Nhét đầy cặp học trò chạy đâm bổ mặt trời xuống núi
Vào đêm… hương cốm vầng trăng

……..

(Vọng cố hương)

Những kỷ niệm xưa cũ, làng quê thuở ấy đã được Tô Thi Vân vẽ lên thật tinh tế, với những hình ảnh như: “cá rô rạch phồng mang leo sấm”, “chạy đâm bổ mặt trời xuống núi”, “Vào đêm…hương cốm vầng trăng”. Thử hỏi, ai đã từng sống trong khung cảnh làng quê thơ mộng, đẹp trong lành đến vậy, rồi một ngày chứng kiến khung cảnh đó hoàn toàn biến mất thì có buồn, có tiếc nuối? Chắc chắn không thể không buồn, không thể không nuối tiếc. Những lúc như thế Tô Thi Vân lại mượn những câu thơ để giãi bày:

Mắt mùa thu xa xăm
Cành tre ngơ ngác gió
Bước chân êm cọng cỏ
Ông lão lầm lũi đi
Ông ơi! Ông về đâu?
Hoa mướp vàng đã nát
Ông ơi! Làng ông đâu?
Tiếng ếch giờ đã khác

(Hoa mướp vàng)

Những câu thơ ám ảnh và xa xót làm sao. Cảnh vật đã khác, lòng người cũng khác, đến cả như tiếng ếch kêu chừng như nghe cũng đã khác, khiến cho nhà thơ nhiều lúc cảm thấy mình bị lạc lõng trên chính mảnh đất quê hương. Như trong bài “Chiều quê” ông viết:

Lắng trong cỏ lả sương lơi
Cuối xuân chiều lặng không lời thốt lên
Bướm vàng hờ hững cành trên
Ngày rơi
như một mũi tên
đuối tầm.

Nhà thơ Tô Thi Vân sinh năm 1948, tên thật là Tạ Văn Thiệu. Ông làm thơ từ khi còn thanh niên nhưng lại xuất hiện trên văn đàn khá muộn, đó là nửa đầu thập niên 90 của thế kỉ trước. Đến năm 1995 ông nhận được giải khuyến khích trong cuộc thi thơ của tuần báo Văn nghệ, từ đó ông chuyển công tác từ Nhà máy Cơ khí Nông nghiệp về Hội Văn nghệ tỉnh Hà Tây, làm biên tập thơ cho Tạp chí Tản Viên Sơn cho đến lúc nghỉ hưu.

Ở Tô Thi Vân vừa có sự chất phác giản dị của một lão nông đồng thời lại có nét của một nhà nho. Điều đó được thể hiện ở phong thái, lời nói, ở sự thâm trầm và sâu sắc, ông quan sát cuộc đời, thế thời đang diễn ra quanh mình, nhưng không để dính chấp, mà an trú trong chính con người mình một cách thanh thản nhất, để từ đó làm nên một giọng thơ riêng.

Trần Vũ Long

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.