Lặng lẽ tỏa sáng

Tuy sáng tác không nhiều, nhưng ngay từ khi mới xuất hiện thơ của thi sĩ Trần Huyền Trân đã "lọt mắt xanh" nhà phê bình Hoài Thanh. Trần Huyền Trân đã được đưa vào "Thi nhân Việt Nam" với lời đánh giá: "Viết đến đây tôi đã định khép cửa lại, dẫu có thiên tài đến gõ cũng không mở. Thế mà lại phải mở cửa để đón một nhà thơ nữa! Trần Huyền Trân... Tôi đã tìm thấy ở đây cái thú của người đi đổi gió".

Khác với nhiều thi sĩ theo đuổi đến tận cùng thi nghiệp của mình, trong 76 năm hiện diện trên dương thế, Trần Huyền Trân (1913-1989) chỉ dành cho thơ độ bảy, tám năm, chủ yếu là từ 1939 đến 1946. Sau này, tuy thỉnh thoảng ông có viết một đôi bài thơ, nhưng sự nghiệp chính của ông từ 1945 trở đi, có lẽ gắn với lĩnh vực sân khấu nhiều hơn. Ông là một trong những nhà thơ có bản sắc trong phong trào Thơ Mới nói riêng và trong thơ ca Việt Nam hiện đại nói chung. Đọc thơ Trần Huyền Trân, ta hay gặp những tâm trạng cảm khái:

16-2.jpg -1
Bà Hạc Đính thời trẻ.

Nhớ nhau vảy bút làm mưa gió
Cho đống xương đời được nở hương.
(Lưu biệt)

Bút dầm biển mực chưa thành sóng
Đã phải cắm lòng khúc tráng ca.
(Đôi ta)

Nhớ người, nhạt thếch rượu đời
Tay vo chỏm tóc, ta ngồi ta ca
Khóc nhau, ném chén tan tành...
Nghe vang vỡ cái bất bình thành thơ
! (Độc hành ca)

Sẽ là một thiếu sót, nếu như nói đến Trần Huyền Trân mà không nhắc đến bà Hạc Đính - người vợ thủy chung, gắn bó. Người phụ nữ lặng lẽ tỏa sáng suốt đời hy sinh vì ông.

Ngày nhà thơ Trần Huyền Trân qua đời, vợ ông - bà Hạc Đính đã làm bài thơ "Khóc chồng". Những dòng thơ thấm đẫm tình yêu thương, nhớ tiếc:

Anh đi còn đó rau Tần
Tiếng thương hạc gọi trên đầm lẻ đôi.

...
Đêm đêm xa gửi mây trời
Đinh ninh trân trọng lời lời anh trao
Anh đi trăm núi ngàn đèo
Ngàn sương nội khói sớm chiều em thương.

Nhiều chục năm là người "nâng khăn sửa túi" cho thi sĩ, bà Hạc Đính cũng đã ảnh hưởng được ở ông một giọng thơ trữ tình hoài cổ, đầy khí phách.

Bà Hạc Đính tên thật là Bùi Thị Đĩnh, sinh ra và lớn lên tại Hà Nội. Bà là con gái yêu của cụ Nam Hương Bùi Huy Cường - một nhà thơ ngụ ngôn nổi tiếng đất Hà Thành từ thời Pháp thuộc. Là một cô gái tài sắc vẹn toàn lại khá tân tiến, từ thời trước cách mạng, vượt qua những quan niệm phong kiến lạc hậu của xã hội lúc đó, bà đã bước lên sân khấu, thủ vai chính trong những vở kịch như "Lệ Chi Viên" (Vi Huyền Đắc), "Nửa chừng xuân" (Mạnh Phú Tư).

Cách mạng tháng Tám thành công, Trần Huyền Trân phụ trách Ban kịch Tháng Tám. Ông cùng Thâm Tâm viết vở kịch 19/8. Bà được mời đóng vai nữ chính của vở. Gần gũi nhau trong công việc, lại là trai tài gái sắc, bà bị nhà thơ Trần Huyền Trân "hút hồn" và mau chóng trở thành vợ của ông. Cưới nhau được nửa năm, vợ chồng bà cùng đoàn kịch đi theo kháng chiến. 9 năm gian khổ ở Việt Bắc, bà Hạc Đính từ người con gái liễu yếu đào tơ, gia cảnh tiểu thư nơi phố thị nhưng vì tình yêu và sự ngưỡng mộ tài năng của chồng, cùng với sự nặng lòng với kháng chiến của dân tộc, bà đã lăn lộn cùng chồng sống một đời sống hi sinh mình để hoạt động cách mạng gian khó. Bà tập trồng khoai, trồng sắn, đánh vật với mưa rừng gió núi, với bom rơi đạn nổ... để nuôi nấng con cái, làm yên lòng chồng đi công tác biền biệt với một niềm tin ông sẽ toàn thắng trở về.

Hòa bình trở về Hà Nội, bà lại được quay lại với ánh đèn sân khấu, được là chính mình, một diễn viên kịch nghệ tài năng, được hết mình đắm say với những vai diễn. Bà đảm nhận nhiều vai nữ chính của Đoàn Kịch Hà Nội; Tham gia các vở kịch như "Giờ quyết định" (Nguyễn Bắc), "Cái máy chém" (Trúc Đường), "Lam Sơn tụ nghĩa" (Nguyễn Xuân Trâm).

16-1.jpg -0
Thi sĩ Trần Huyền Trân cùng vợ.

Gia đình bà sống trong căn nhà lợp toàn bằng tre nứa trong một ngõ nhỏ phía sau nhà thờ Nam Đồng. Cuộc sống nghèo, nhưng đầm ấm và hạnh phúc. Nhưng rồi tai họa liên tiếp ập đến đã vùi dập cuộc sống của vợ chồng bà một cách không thương tiếc. Ngôi nhà của bà trong một lần gặp nạn bị lửa thiêu cháy rụi. Nhưng đau đớn khủng khiếp hơn cả là cô con gái yêu thương của vợ chồng bà bị tai nạn mất khi đang du học ở nước ngoài. Nước mắt đầu bạc khóc đầu xanh, và đau nhất là con mất nơi tha hương nên nỗi đau của ông bà thêm cùng cực. Gia cảnh bà đã nghèo, giờ lại càng thêm khốn khó, bất hạnh. Những năm cuối đời, nhà thơ Trần Huyền Trân lại mắc bệnh hiểm nghèo. Ông nằm tiều tụy nhỏ thó trên giường bệnh, nhưng đôi mắt tinh anh sắc sảo vẫn dành cho bà ánh nhìn chan chứa yêu thương và thấm đẫm lòng biết ơn sâu nặng.

Suốt đời mình bà đã gánh đỡ cùng ông những kiếp nạn của một đời nghệ sĩ tài hoa và bất hạnh. Không chỉ tôn trọng công việc mà bà còn tôn trọng sự tự do và những niềm đam mê khác của ông. Thi sĩ vốn nổi tiếng là người đào hoa, đa tình. Tác giả của nhiều câu thơ tình tứ, đẹp đến nao lòng: "Xa nhau gió ít lạnh nhiều/ Lửa khuya tàn chậm mưa chiều đổ nhanh"; "Người ơi sênh phách hay hồn đấy/ Tay yếu gieo lòng xuống chiếu hoa". Những năm chung sống cùng nhau, biết được những "án tích" của chồng, bà cho qua hết. Nhất là từ sau năm 1954, ông chuyển hẳn sang hoạt động sân khấu, môi trường làm việc toàn với các diễn viên trẻ đẹp. Bà suy nghĩ rất thoáng rằng đã là nghệ sĩ mà không lãng mạn bay bổng thì lấy đâu ra cảm hứng sáng tạo.

Nhà thơ Trần Huyền Trân cũng đã từng có lần "thú nhận": "Đàn ông năm bảy lá gan/ Lá ở cùng vợ lá toan cùng người".

Biết vậy nên đôi khi có "nhân chứng vật chứng" trong thơ cũng như trong đời ông bà đều "đại xá". Hơn ai hết bà hiểu rằng, dù có những lúc xao lòng nào đó thì cuối cùng bao giờ ông cũng hướng về bà - "Vợ cái con cột", người đã yêu thương, tận tụy một đời vì ông.

Lưu Khánh Thơ

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.