Lãng đãng mây đầu ô

Một trong số các nhà thơ tiêu biểu thời kỳ kháng chiến chống Pháp, theo chúng tôi là nhà thơ Quang Dũng. Thơ của ông có sức lan tỏa rất lớn ngay thời kỳ đó. Và cho đến ngày  nay, vẫn còn nhiều người tìm đọc thơ của ông.

Ông là người viết không nhiều, nhưng lại là nhà thơ có những bài thơ đi sâu vào lòng độc giả. Nói đến Quang Dũng là nói đến "Tây Tiến", "Đôi mắt người Sơn Tây", những bài thơ đã tạo nên thương hiệu của ông. Nếu "Đôi mắt người Sơn Tây" có cái trữ tình da diết; "Tây Tiến" có nét kiêu bạc, lãng tử; thì "Những làng đi qua" lại có vẻ đẹp hồn hậu, bình dị. Câu chữ trong bài mộc, mà có sức tỏa lấp lánh.

Nhớ buổi trung đoàn ta ra đi
Tháng chạp màn sương trùm đất nước
Gió mùa chết héo mạ xanh non
Sương muối thấm vào bao đạn ướt.                   

Nhớ buổi trung đoàn ta ra đi
Dân đang gánh gồng cả cơ nghiệp
Mái nhà trăm năm thôi để lại
Lạc chủ, chó gầy mắt hoang dại

Mẹ địu con thơ, mang tiếng hát
Ru con gửi gấm những quê nhà
Nôi con đã chất cao thù hận
Thành luỹ ngăn đường chặn chiến xa

Bài thơ viết năm 1947, mô tả hậu phương đang rộn rịp chuẩn bị cho ngày tổng tấn công. Tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh và tình quân dân trong bài thơ rất đẹp. Đặc biệt, tình cảm người dân với vị lãnh tụ thật gần gũi, ấm áp.

Giầy vải Bác Hồ phơi bờ ao

Câu thơ giản dị, mà tình cảm thấm đẫm một niềm trân trọng. Đây là một câu thơ hay viết về lãnh tụ. Chỉ là viết gián tiếp thôi, mà người đọc thêm kính trọng vị lãnh tụ tài giỏi và rất gần gũi.

Nhà thơ Quang Dũng.
Nhà thơ Quang Dũng.

Cái hay trong bài thơ "Những làng đi qua" là cách tả. Chỉ là những cảnh vật thân thuộc, nhưng trước con mắt nhà thơ thì mọi vật đều lung linh, sống động. Cái tài của nhà thơ là cách nói ngược, tạo ra sự hấp dẫn. Ví dụ, một khổ thơ:

Khuya về chân khoả vội cầu ao (Nói thuận:  Cầu ao, khuya, có người khỏa chân).  Nghe tiếng sung rơi miệng chiến hào (Nói thuận: Chiến hào, có tiếng sung rơi),  Bờ tre cây rơm thôi tịch mịch/ Vỡ lá bàng khô bước du kích (Nói thuận: Bước chân du kích dẫm vỡ lá bàng khô).

Rõ ràng, với cái tài biến hóa con chữ của nhà thơ, câu thơ bỗng trở nên kỳ ảo, thần thái biết bao nhiêu.

Những làng trung đoàn ta đóng lại
Tiếng nêu đưa khánh dưới mưa phùn
Hương đen ngũ quả, màu tranh Tết
Câu đối mực tàu bay xạ ngát

Cột nhà tre trúc giãi gan vàng
Mang câu đối đỏ niềm son sắt
Tiếng hát hành quân vui trong mưa
Gió bấc về sân buổi tiễn đưa
Nải chuối tiễn nhau em mới cắt...

Cả bài thơ không nói điều gì to tát, không triết lý cao siêu. Chỉ tả những nét đời sống giản dị, mà có sức gợi, sức mở cho cảm xúc người đọc. Cái tài của Quang Dũng, chỉ cần dùng những ngôn ngữ rất mộc, dân dã, mà lại chứa chất cảm xúc thanh cao, sang trọng. Nó tạo ra phong vị, phong cách riêng, mà chỉ riêng  Quang Dũng mới có.

Thơ Quang Dũng có vẻ đẹp trang trọng, kiêu sa được ẩn trong  vỏ bọc ngôn từ bình dị. Có người nói, đọc thơ (và văn) Quang Dũng, như thưởng thức vị  kẹo bột, kẹo vừng. Nó mộc, dân dã, nhưng lại có vị sang riêng, không thua kém bất kỳ hương vị  tân kỳ nào khác. Ông là người làm thơ sớm. 16 tuổi, ông có bài thơ "Chiêu quân".

19 tuổi, ông viết "Cố quận". Đó là những bài thơ với bút pháp rất điêu luyện. Nếu ông có ý thức lưu danh gửi đăng những bài thơ này kịp thời, thì chắc ông đã được xếp vào hàng ngũ các nhà thơ trước cách mạng, như Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh, Anh Thơ...

Với nghệ thuật, cả văn, thơ và nhạc, họa, Quang Dũng như một nghệ sỹ tài tử. Nhưng trong bất kỳ thể loại nào, ông đều đạt ngưỡng bậc mà đồng nghiệp và độc giả kính nể. Đến nay, qua thời gian sàng lọc, những bài thơ của ông, như "Tây Tiến", "Đôi mắt người Sơn Tây" được xếp vào hàng các bài thơ hay của thời kỳ chống Pháp đã được công nhận, như "Tình sông núi" của Trần Mai Ninh, "Lên Cấm Sơn" của Thôi Hữu, "Nhớ" của Hồng Nguyên, "Đồng chí" của Chính Hữu, "Bên kia sông Đuống" của Hoàng Cầm...

Nhà thơ Quang Dũng là người không có ý thức lưu giữ bản thảo của mình. Ngay bài thơ "Những làng đi qua" của ông, được công bố trên sách báo là nhờ công nhà thơ Hoài Anh. Ngày ấy, Hoài Anh đi sưu tập, tuyển chọn những bài thơ hay về Hà Nội, để Hội Văn nghệ Hà Nội in tập thơ tuyển kỷ niệm 20 năm ngày giải phóng Thủ đô.

Khi đến nhà Quang Dũng, nhà thơ giở cuốn sổ tay chữ nhòe nhoẹt vì nước mưa, đọc cho Hoài Anh chép lại. Ông và Hoài Anh phải luận ra từng chữ. Bài thơ được công bố rộng rãi và bạn đọc thêm biết bài thơ  từ đó.

Ngoài làm thơ, Quang Dũng còn viết văn. Văn của ông cũng có phong vị đặc biệt. Hai tập ký "Rừng về xuôi" và "Nhà đồi" của ông, thẫm đẫm cảm xúc của một nhà thơ viết văn xuôi. Bài ký viết về số phận con tàu bị chìm khuất dưới lòng sông, như ông viết về số phận một con người. "Hoa lại vàng tháng chạp", bài ký bảng lảng nỗi niềm kiếp người trước thời gian.

Ông là người tài hoa. Những bức tranh bột màu, một vài ca khúc của ông sáng tác chứa chất một phong vị rất Quang Dũng. Ông tự nhận mình như đám mây đầu ô lang thang "Mây ở đầu ô mây lang thang/ Ôi! chật làm sao/ Góc phố phường...".

Ông là người chịu nhiều thăng trầm. Nhưng ông luôn biết tạo ra niềm vui nho nhỏ trong đời sống thường nhật. Những ngày gia đình ông còn ở căn buồng trên gác ngôi nhà cuối phố Bà Triệu, sáng sáng ông vào công viên Thống Nhất tập thể dục, đồng thời hồn nhiên mang theo bao tải để một công hai việc. Chả là ngày đó tem phiếu còn khó khăn, gia đình ông phiếu dầu không đủ đun, thường phải đi kiếm củi, lá khô về đun thêm.

Nhà chật chội, ông rất thú vị được ra công viên hít thở. Ông thường nói vui, ấy là đi "tẩm bổ... ôxy!". Đã thế, sau mấy động tác thể dục buổi sáng, là ông đi nhặt lá rụng cho đầy bao tải, khoác về nhà, đem phơi, để thêm thắt đồ đun cho gia đình. Nom dáng to lớn của ông, khoác vai bao tải lá, thật là cảm kích. Ông sống, làm việc bình dị. Hẳn trong công viên và phố xá, ít người biết ông là nhà thơ, nhà văn danh tiếng.

Ông là người biết coi nhẹ việc đời, mà có thể người khác cho là nặng nhọc, nhếch nhác. Với ông, tự thấy mình là người bình thường, thì lo lắng việc bình thường, giúp vợ con được chút gì, là tốt điều đó.

Ngày ấy, nhà ông ở gần nhà ông Lữ Giang. Nhóm bộ ba của ông thi thoảng lại tụ tập nhà ông Lữ Giang. Ông nhà thơ Lữ Giang có bài thơ "Tiếng đàn bầu" được nhạc sỹ Nguyễn Đình Phúc phổ nhạc thành ca khúc rất ngọt ngào. Nhà ông là cái tum trên sân thượng một tòa nhà, thành ra các nhà thơ nhà văn hay tụ họp. Những bữa "liên hoan" của các ông tại nhà ông Lữ Giang, thật đến linh đình.

Ấy là nồi nước chè xanh đặc xít và xoong lạc luộc, khoai lang luộc và hạt mít luộc. Tôi đã mấy lần được dự "liên hoan" thân mật  của các ông. Ông Ngô Quân Miện, ông Trần Lê Văn từ Bà Triệu, Hàm Long kéo xuống.

Ông Yên Thao, nhà thơ châm biếm, trong kháng chiến chống Pháp có bài thơ "Nhà tôi ở mé bên đồi/có giàn thiên lý..." bên Phố Huế kéo sang. Ông Tạ Hữu Yên, nhà thơ đại tá quân đội, luôn xẻ tem phiếu thực phẩm cho nhà thơ Lữ Giang đông con, ở dưới Trương Định ngược lên. Mỗi bận ông lên, thường mang theo mấy chiếc bánh đa nướng ròn. Nhà thơ Quang Dũng chỉ việc đi mấy bước qua đường, là có mặt trên cái tổ chim cu sân thượng của ông Lữ Giang.

Có bữa, có ông mang gói kẹo bột, kẹo vừng đến góp vui. Những bữa liên hoan thường tổ chức vào những đêm trăng sáng. Sân thượng nhà ông Lữ Giang tràn ngập ánh trăng. Khuôn mặt các nhà thơ nhà văn thân hữu cũng ngập tràn ánh trăng. Khoai lang luộc bở, lạc luộc bùi, nước chè xanh thật quyện, thật linh đình.

Sự thanh đạm của các ông cho tôi cảm giác vật chất là thứ các ông hình như không màng tới. Cái chính là gặp gỡ nhau, được trò chuyện với nhau đôi câu. Tôi thấy tình cảm của các ông vô cùng yêu thương và thuần khiết. Hầu như mỗi ông có cái vất vả riêng, nhưng không thấy ông nào kêu ca chuyện vất vả. Họ trò chuyện ôn hòa, đôi lúc pha trò cười nhẹ nhàng. Không thấy ai to tiếng, mặc dầu mỗi ông đều có cảnh ngộ thua thiệt riêng biệt.

Tôi cũng có đôi ba lần được đi theo các ông "giang hồ, xê dịch" đó đây. Nào có đi xa xôi gì đâu, chỉ quanh quanh Hà Đông, Sơn Tây, hoặc sang đất Kinh Bắc quê tôi. Không xe cộ ôtô đưa đón gì, mà thũng thẵng mấy bác cháu đạp xe đạp.

Một chuyến đi khó quên. Ấy là mấy bác cháu đạp xe về thăm chùa Tiêu bên Từ Sơn. Cảnh trí chùa Tiêu dễ gợi cho mấy bác cháu liên tưởng tới tiểu thuyết "Tiêu Sơn tráng sĩ" của Khái Hưng thuở nào. Rồi trên đường về, mấy bác cháu ghé thăm ngôi nhà thầy đẻ tôi ở quê Trang Liệt. Vừa dắt xe vào đầu ngõ, thấy lố nhố người vận áo xô trắng, chất khăn tang trắng. Mấy bác cháu sửng sốt, nhà tôi đột ngột có tang? Thì ra, không phải, mà nhà bên kẽ ngạch có người mất. Việc tang lễ quê tôi vẫn có thói quen ngồi nhờ cả mấy nhà hàng xóm.

Mấy bác cháu vừa vào nhà, nhà thơ Quang Dũng khởi xướng cùng sang nhà đám viếng lễ. Theo tập tục, mấy bác cháu đứng vái vong hồn người quá cố. Ông con trưởng nhà đám, vốn là bộ đội chống Pháp, mặc áo xô chít khăn trắng đứng đáp lễ bên linh cữu. Khi nghe tôi giới thiệu nhà thơ Quang Dũng, ông liền tiến tới cúi gập mình, vái ba vái nhà thơ, thay cử chỉ bắt tay.

Ông  nói rằng, thời trẻ, đã thuộc làu bài thơ "Đôi mắt người Sơn Tây" và bài thơ "Tây Tiến". Ông và đồng đội vẫn nhẩm đọc trên đường hành quân. Phục nhà thơ  quá, ông lại cúi lạy tiếp ba lạy. Nhà thơ Quang Dũng quá bất ngờ, vì có người vái sống mình, liền cúi đầu, khoanh tay vái tạ ba vái. Thấy nghĩa cử bất ngờ, nhiều người nhà đám ngỡ ngàng, không rõ đầu đuôi. Riêng tôi, tôi  cảm kích vô cùng. Tôi hiểu, thơ là cầu nối cho con người gần nhau và tôn kính  nhau.

Mỗi lần nhớ lại một vài kỷ niệm nhỏ về nhà thơ Quang Dũng, tôi lại thấy xốn xang vô cùng. Những kỷ niệm nhỏ bé, nhưng tôi thấy đó là hạnh phúc lớn của nhà thơ mà không phải ai cũng có được. Như thế, tôi thấy mọi thua thiệt này khác của người cầm bút cũng chả nghĩa lý gì. Hạnh phúc cao nhất của người viết, là  khi tác phẩm của mình viết ra, được  bạn đọc  quý mến, trân trọng. Tôi thêm nhớ những vần thơ  ông viết trong  bài "Đôi mắt người Sơn Tây".

Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
Em đã bao ngày em nhớ thương?...

Tôi đã nhiều lần về phố Phùng, quê hương nhà thơ Quang Dũng. Mỗi lần qua đoạn sông uốn mình bên phố huyện,  lại nhớ câu thơ nao lòng của ông.

Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc
Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng
Câu thơ mộc, mà da diết biết chừng nào.

Tháng 6-2019

Vũ Từ Trang

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.