Lận đận số phận slư nam người Tày

Slư nam là chữ nôm Tày. Slư là chữ. Nam là nôm. Vậy slư nam xuất hiện từ bao giờ? Một câu hỏi cho đến tận ngày nay vẫn còn bỏ ngỏ. Vậy chữ nôm Tày như thế nào? Có người nói chữ nôm Tày cấu tạo như chữ nôm Kinh. Có nghĩa là nôm Tày xuất hiện sau nôm Kinh. Điều đó hình như có lý? Nhưng lại có người nói ngược lại. Chữ nôm Tày có trước chữ nôm Kinh? Song, tất cả chưa có câu trả lời một cách xác đáng. 

"Năm 1592, Mạc Kính Cung lên Cao Bằng. Năm 1594, xưng vua là Càn Thống, đặt vương phủ tại Nà Lự Cao Bình. Mạc Kính Cung đã chấn chỉnh kỷ cương mọi mặt, cắt đặt mọi việc như lúc triều đình còn ở kinh đô Thăng Long, chăm lo thu phục lòng dân, mở trường quốc học, mở khoa thi, thu dụng nhân tài..."; "Về giáo dục, vua Mạc Kính Cung mở trường Quốc học ở Bản Thảnh - Cao Bình.

Trường đào tạo được nhiều môn sinh có tài, có đức. Các môn sinh đã tỏa ra các vùng trong tỉnh, mở lớp dạy chữ hán, chữ nôm, nhờ đó đã xóa được nạn mù chữ cho dân. Cứ ba năm, lại tổ chức thi hương, thi hội, thi đình một lần. Sau 12 khoa thi, nhà Mạc tuyển chọn được nhiều nhân tài bổ sung vào bộ máy chính quyền..." (Báo Cao Bằng điện tử).

Từ những cứ liệu lịch sử, ta có thể xác định chữ nôm Tày xuất hiện ở thế kỉ XVI, khi nhà Mạc dời Thăng Long lên đóng đô ở Nà Lự Cao Bằng chăng?

Hát quan làng trong đám cưới người Tày.
Hát quan làng trong đám cưới người Tày.

Vậy ai là người sáng tạo ra chữ nôm Tày? Cũng theo Báo Cao Bằng: "...Một nhà trí thức người Tày tên là Lý Thế Khanh là con nhà gia giáo ở tổng Thượng Bạn, châu Thạch Lâm (nay là các xã: Hồng Việt, Bình Long, Bế Triều, huyện Hòa An); ông sinh năm 1389 được về kinh đô Thăng Long học Hán Văn. Năm 1420, thôi học, ông về quê Cao Bằng dạy học 20 năm.

Thấy chữ Hán không phù hợp với thổ âm quê mình, ông sáng tác những bài hát viết bằng chữ Nôm Tày và được lưu truyền. Ông lại là người sành về âm nhạc, biết chơi cây tính tẩu. Như vậy, có thể khẳng định ông Lý Thế Khanh là người đã cải biên chữ Hán thành chữ nôm Tày được chăng. Chữ nôm được hoàn chỉnh và dùng rộng rãi trong sáng tác thơ ca, trong sổ sách đinh điền. Nhờ có chữ nôm Tày, đến nay ta còn lưu giữ được nhiều tư liệu cổ về văn học, ngôn ngữ, lịch  sử, địa lý, truyền lại đến ngày nay...".

Điều đáng quan tâm nhất tất cả các tài liệu hiện sưu tầm được đều không rõ nguồn gốc. Không xác định được tác giả chữ nôm Tày một cách rõ ràng.

Về kết cấu, chữ nôm Tày được xây dựng trên cơ sở chữ Hán để ghi âm tiếng Tày. Chữ nôm Tày từng được phổ biến rộng rãi khu vực có người Tày sinh sống trên khắp đất nước ta. Từ khi ra đời nó đã trở thành công cụ đắc lực để ghi chép lời ăn tiếng nói. Đặc biệt chữ nôm Tày được dùng trong tất cả các văn bản có giá trị pháp lý như khế ước, mua bán, chuyển nhượng, địa bạ đến phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lịch sử, địa lý và các tác phẩm văn học...chứa đựng những nội dung cần thiết đều được ghi chép bằng chữ nôm Tày.

Hiện nay, nhiều địa phương thuộc khu vực Việt Bắc như Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang... vẫn còn lưu truyền khá nhiều văn bản chữ nôm Tày. Như các sách mo, then, bụt, tào. Đặc biệt các tác phẩm văn học như "Toẹn sli" ( Truyện thơ), "sli lẩu" (Thơ hát trong lễ cưới), "lượn then, lượn cọi"...( Hát giao duyên), then (Nữ) giàng (Nam) hát trong lễ cầu an cầu phúc, chúc thọ...

Nhưng, hiện nay những người có vốn hiểu biết chữ nôm Tày ngày càng ít. Và hầu hết nay họ đã vào tuổi "xưa nay hiếm". Lác đác nơi này nơi kia còn vài ba cụ đọc và hiểu chữ nôm Tày, nhưng nay tất cả đều đã gần đất xa trời. Một thực tế cho thấy các thế hệ con cháu người Tày hầu như rất ít người đọc được văn bản nôm Tày. Có một số tác phẩm văn học đã được các nhà trí thức dịch ra chữ Tày phiên âm latin. Phần lớn những văn bản nôm Tày khác còn lại vẫn "đắp chăn ngủ yên".

Người Tày là dân tộc thiểu số đông nhất trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Theo điều tra dân số gần đây nhất, hiện có khoảng 2 triệu người  đang sinh sống. Họ có mặt trên bản đồ nước Việt Nam từ rất lâu đời. Người Tày có ngôn ngữ riêng, thuộc hệ Thái Kadai. Cũng có người nói tiếng Tày thuộc ngữ hệ Tày Thái. Gọi thế nào cũng được, nhưng người Tày lại có quan hệ gần gũi với người Nùng, ít có quan hệ với người Thái Tây Bắc.

Người Tày nói tiếng Tày, nhưng người Nùng đều hiểu một cách thấu đáo. Tiếng Tày trở thành phổ thông, ai cũng có thể sử dụng một cách thành thạo. Bởi thế người ta thường nói và viết thành cụm từ: Ngôn ngữ Tày - Nùng. Tiếng Tày - Nùng. Chữ Tày - Nùng. Còn tiếng Thái, người Tày chỉ loáng thoáng hiểu được 30 đến 40% mà thôi.

Chữ nôm Tày có một vị thế cực kì quan trọng trong đời sống xã hội. Nhưng hiện nay, do vô tình hay hữu ý, chúng ta đã đánh mất nó. Vậy ta thử đi tìm nguyên nhân vì sao thất truyền. Nôm Tày cùng với nôm Kinh, đều thuộc hệ chữ khó học. Vì thế ngày nay đều đã rơi rụng dần. Muốn có lưng vốn nôm Tày người ta phải biết khá thành thạo chữ Hán Việt.

Còn chữ latin phiên âm tiếng Tày dễ viết dễ đọc. Ai cũng có thể học đánh vần a b c một cách dễ dàng và nhanh chóng. Phàm những gì dễ dàng nhanh chóng đều được quần chúng chấp nhận ngay lập tức. Phong trào bình dân học vụ là một ví dụ. Người ta chỉ học dăm ba buổi là có thể đánh vần được đôi ba chữ i tờ. Ví dụ: "cao vá" là người ăn mày. "Ngọp ngoẹp" là thoi thóp, "khôn món" là lông măng...Những người biết đánh vần đều có thể đọc vỡ chữ Tày một cách dễ dàng. Nhưng để đọc và hiểu được đôi ba chữ tam tự kinh "nhân chi sơ" không hề dễ chút nào. Có khi mất cả tháng cả năm chưa đọc và hiểu một câu chữ Hán.

Từ điển chữ Nôm của người Tày.
Từ điển chữ Nôm của người Tày.

Vì thế, chữ nôm Tày có nguy cơ thất truyền là rất lớn. Việc sưu tầm bảo tồn chữ nôm Tày là một nhiệm vụ tối khẩn thiết. Nghị quyết Trung ương V đã viết: "Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số" phải được coi là nhiệm vụ hàng đầu. Chữ nôm Tày là cơ sở đầu tiên để chúng ta hiểu sâu nền văn hóa cổ truyền người Tày.

Ai cũng biết chữ nôm Tày là một phần cực kì quan trọng trong đời sống sinh hoạt văn hóa.  Ấy vậy mà nôm Tày đã và đang dần dần rơi rụng, tự hủy. Liệu có hay không, văn hóa dân tộc đa số như một con trăn khổng lồ đang nuốt chửng các nền văn hóa liu diu bé nhỏ? Không. Tôi không tin. Văn hóa không có sự hơn kém. Văn hóa dân tộc đa số không hơn văn hóa các dân tộc thiểu số. Văn hóa tôn trọng sự khác biệt. Tự thân văn hóa có một nội lực vô song.

Có hay không xuất phát từ tâm lý tự ti dân tộc? Từ xa xưa cha ông người Tày đã nói: "Hêt kin bâu lẩp Hác. Phuối pác bấu lẩp Keo. Eo mèo bấu lẩp Mán". Nghĩa là "Kế sinh nhai không bằng người Hán. Nói năng không lưu loát bằng người Kinh. Làm cái tỉnh tình tinh không bằng người Mán".

Có nhiều trí thức người Tày không đồng tình với câu nhận định này. Nhưng đây là câu cửa miệng của cha ông người Tày. Những gì đã đúc kết thành câu cửa miệng, buộc phải chấp nhận. Thực tế cũng cho thấy, tâm lý người Tày không thích ganh đua. Thế nào cũng xong, miễn được bình an vô sự. Người Tày trọng chữ nhàn. Nhàn cho yên thân. Lấy chữ nhàn làm tiêu chí cho cả cuộc đời. Vạn sự bất như nhàn.    

Với vị trí vai trò của dân tộc Tày, của văn hóa Tày trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam trong tiến trình hòa nhập khu vực và quốc tế, thiết nghĩ, Ủy ban Dân tộc, Viện Hán Nôm và các cấp các ngành liên quan cần có chính sách ưu tiên hợp lý cho việc bảo tồn và gìn giữ chữ nôm Tày. Chữ nôm Tày là loại chữ biểu ý, cần được tin học hóa, phải được mã hóa trong bộ mã quốc tế. Phải tiến hành chuẩn hóa chữ nôm Tày và tạo dựng chữ nôm Tày trên trong phần mềm của hệ thống máy tính. Làm được như vậy mới có cơ sở xây dựng dữ liệu lưu trữ an toàn lâu dài cho các văn bản, các tác phẩm văn nghệ hiện có lưu trữ  trong kho tàng chữ nôm Tày.

Chúng tôi là con em dân tộc Tày, không được đào tạo cơ bản về ngôn ngữ nhưng xuất phát từ tình yêu tiếng mẹ đẻ và chữ viết của dân tộc, chúng tôi mạo muội trao đổi cùng các qúy vị đang quan tâm đến việc bảo tồn gìn giữ và phát huy truyền thống văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam.

Y Phương

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.