Lâm Huy Nhuận - bạn đến cùng tôi chia bóng tôi

Lâm Huy Nhuận thuộc lứa những cây bút cuối cùng trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cùng trang lứa với những cái tên như Hoàng Nhuận Cầm, Vũ Đình Văn, Nguyễn Trọng Định, Nguyễn Văn Thạc… Những sáng tác đầu tiên của anh được viết giữa chiến trường.

Mỗi năm, cứ bước vào tháng 9 là toàn thể những người làm chương trình phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam nói chung, các cán bộ của Ban Văn học Nghệ thuật nói riêng lại náo nức chuẩn bị chào đón ngày thành lập Đài Tiếng nói, gắn với mùa thu cách mạng lịch sử 1945 của dân tộc. Đối với mỗi cán bộ của Ban Văn nghệ, ngoài nhiệm vụ chính là thực hiện các chương trình phát thanh, nhiều người trong số họ còn tham gia sáng tác văn học và trở thành những cây bút có tên tuổi, xác lập được vị trí riêng trên văn đàn. Một trong những người như thế chính là nhà thơ Lâm Huy Nhuận.

Lâm Huy Nhuận. -0

1. Lâm Huy Nhuận thuộc lứa những cây bút cuối cùng trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cùng trang lứa với những cái tên như Hoàng Nhuận Cầm, Vũ Đình Văn, Nguyễn Trọng Định, Nguyễn Văn Thạc… Những sáng tác đầu tiên của anh được viết giữa chiến trường. Giai đoạn sáng tác đầu tiên của Lâm Huy Nhuận với những bài thơ viết trước 1975 đã sớm hé lộ một giọng thơ độc đáo, nhiều câu thơ vừa có hiện thực dữ dội của cuộc chiến, vừa có chất lãng mạn tài hoa.

Chẳng hạn như những câu thơ tả việc ăn nắm cơm giữa chiến trường: “Thơm từ miếng nạc lên hương/ Thơm sang miếng cháy vàng ươm lửa hồng/ Nhai như có hột bên trong/ Lưỡi lừa ra – đỏ mảnh bom ban chiều” (Nắm cơm quả bưởi). Nhịp điệu mềm mại ngọt ngào của thể lục bát truyền thống bất ngờ diễn tả được cả những chi tiết khốc liệt của chiến sự, khi mà trong miếng cơm của người chiến sĩ lạc vào cả một mảnh bom đỏ hồng. Thế mới biết ranh giới giữa sự sống và cái chết, giữa sinh và diệt đôi khi thật quá đỗi mong manh.

Trong một bài thơ khác, Lâm Huy Nhuận có những quan sát và miêu tả thật độc đáo về tiếng ếch giữa chiến trường: “Xe nối đoàn lên tận tuyến đầu/ Tháng ba còn buốt đá ngầm sâu/ Nghĩ thương chú ếch kêu khan tiếng/ Bom nổ liên hồi phải sấm đâu”. Trước đó, thơ Việt cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 đã từng có một tượng đài về tiếng ếch trong thơ Tú Xương: “Vẳng nghe tiếng ếch bên tai/ Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò” (Sông Lấp).

Nếu như tiếng ếch trong thơ Tú Xương là nỗi hoài niệm ngậm ngùi về cuộc đổi thay dâu bể thì tiếng ếch trong thơ Lâm Huy Nhuận là những khắc nghiệt đau thương của cuộc chiến, ẩn sau đó một tấm lòng đầy thương yêu, như muốn được chở che cho từng sinh vật dù bé nhỏ. Sự cảm động ấy, người đọc còn có thể bắt gặp trong những câu thơ Lâm Huy Nhuận viết về giây phút đứa con tạm biệt mẹ hiền để bước ra chiến trường: “Nhớ lại hồi chập chững bước chân/ Vũ trụ lớn không ngoài tay mẹ vịn/ Con đâu biết khi in trên đất mịn/ Dấu chân con nối tình mẹ xa dần” (Mẹ tập con đi, Đảng dạy con đi).

2. Kết thúc chiến tranh, Lâm Huy Nhuận trở thành sinh viên Văn khoa Đại học Tổng hợp. Nhiều bài thơ anh viết giai đoạn cuối thập niên 70, đầu thập niên 80 mang vẻ đẹp dịu dàng, mềm mại, trong sáng, dù là những câu thơ tình cho đôi lứa, thơ cho con hay thơ về thiên nhiên cảnh vật. Bài thơ “Mùa thu” của Lâm Huy Nhuận cho đến nay, theo tôi vẫn là một trong những bài thơ tình hay nhất về mùa thu của thơ Việt Nam hiện đại.

Những câu thơ vừa giàu họa tính vừa giàu nhạc tính, đủ tinh tế để thể hiện được nỗi mong manh run rẩy trong hồn người: “Em còn nhìn bỡ ngỡ/ Hai mắt tròn như đôi tiếng chim/… Thu về chín vỡ trong tôi/ Hương bao trái lạ rối bời lời chim/ Thu đi để lại bên thềm/ Nghìn con mắt lá đang nhìn về đâu/ Chúng mình đã lỡ thương nhau/ Đừng như thu rụng đôi màu lá thu”.

Cũng là tiếng chim ấy, hồn nhiên và trong veo trong những câu lục bát khác, như sự vỗ về xoa dịu những vết thương trên thân thể thiên nhiên sau chiến tranh: “Màu xanh tràn hố bom sâu/ Tiếng chim về đó rủ nhau tìm mồi/ Lắng nghe nhẹ xuống tay tôi/ Từng hạt thóc nhỏ - đấy lời của chim” (Cái sàng lời chim).

Những thi phẩm như lời ru dành cho con thơ, trong thơ Việt từ trước đã có nhiều, song cái độc đáo của Lâm Huy Nhuận là lời ru cất lên từ tiếng lòng của người lần đầu được làm cha: “À ơi con ngủ đi con/ Mẹ vừa chợp giấc sữa còn nhẩn nha/ Chờ thêm chút xíu thôi mà/ Sữa mẹ về đã thấm ra áo rồi…/ Da con mát tựa buổi mai/ Làm cha dịu lại bao ngày Trường Sơn” (Lời ru đợi sữa mẹ về).

Lâm Huy Nhuận. -0

Thế rồi một biến cố lớn bỗng xảy đến trong đời Lâm Huy Nhuận, đó là sự tan vỡ của cuộc hôn nhân lần thứ nhất. Nhiều bài thơ của ông như đi đến tận đáy thăm thẳm của nỗi buồn, của tột cùng cô đơn và đau khổ: “Tự mình xông đất cho mình/ Căn phòng vắng ngắt lặng thinh bốn mùa/ Tự đốt pháo, tự giao thừa/ Bắt tay chúc tết như vừa thấy nhau/ Giật mình hai mắt trũng sâu/ Người trong gương ấy còn đau hơn mình” (Tự xông đất).

Còn gì cô đơn hơn khi một người phải tự phân thân thành hai cho vơi bớt đi nỗi trống trải trong thời khắc mà mọi gia đình bình thường đều được sum họp đoàn tụ - thời khắc giao thừa. Niềm đau day dứt đến độ gửi cả nỗi đau ấy vào trong hư ảnh, vào cái bóng trong gương của mình. Ước mơ hạnh phúc là điều mãi mãi xa vời, khi quanh thi nhân chỉ còn bóng tối hoang hoải và những đổ vỡ. Nghe trong từng câu chữ như có những giọt nước mắt rỏ xuống cõi lòng tan nát: “Nghe trong gió loạn xe hoa đến/ Họ rước em rồi anh cưới đêm” (Cưới đêm).

Trong nỗi đau, thơ Lâm Huy Nhuận dường như có thêm một chiều hướng khác, tìm về sự tối giản. Ông đã viết tới gần 20 bài tứ tuyệt trong tập “Chiều có thật” (1999): “Vô lý trời xanh vô lý cây/ Vô lý cả tôi dưới sáng ngày/ Theo đêm đi miết, ừ không bạn/ Buồn cũ còn riêng một hũ đầy” (Vô lý). Trong tận cùng cô đơn, ta mới thấy con người khao khát một sự sẻ chia và đồng cảm như thế nào: “Quán núi chiều mưa dợn khói người/ Tôi nghe trong suối tiếng thầm rơi/ Xin đừng đánh động, tâm còn lặng/ Bạn đến cùng tôi chia bóng tôi” (Quán núi).

Trong chặng cuối của tập "Chiều có thật", Lâm Huy Nhuận đi đến chỗ tự giải thoát mình khỏi nỗi buồn. Nỗi buồn còn đó nhưng tự nó dường như đã tách thành một thực thể, yên lặng ở bên con người, thấu suốt như nhìn thấy tận cùng để tấm lòng trở nên bình thản: Tôi nằm giữa thực và mơ/ Mà nghe tay buốt hai bờ thương đau/ Có bông hoa nhỏ dưới cầu/ Nở ra trắng muốt không màu thời gian (Bài kệ 1).

3. Bạn đọc phải chờ đến 23 năm sau, Lâm Huy Nhuận mới tái xuất giang hồ qua tập thơ “Mùi mưa - Sông mắt ướt “(NXB Hội Nhà văn, 2022) gồm 132 bài thơ, ra mắt vào đúng dịp sinh nhật tròn 70 tuổi của tác giả. Phong cách Lâm Huy Nhuận qua tập thơ thứ ba này là trở về với vẻ đẹp cổ điển trong tâm thế của một người bình thản, đắc ngộ, không còn dính mắc vào những buồn đau tê tái như nhiều bài của tập “Chiều có thật”. Những hồi ức, kỷ niệm về bóng hình cũ, nếu có phảng phất chút buồn thì cái buồn ấy cũng đã lặn vào sâu lắm, chỉ còn lại một sự an nhiên tĩnh tại.

Ta bỗng thấy thơ Lâm Huy Nhuận có hơi hướng của những bậc thiền sư: “Mây vẩy cá lá thủy tinh/ Góc vườn nơi ấy thấy mình bên nhau/ Bây giờ trăng đã bã trầu/ Mắt chân chim quệt mệt nhàu môi xưa/ Bây giờ đom đóm nhóm mưa/ Lom đom mấy hạt hắt bừa lên đêm”. Cách viết của Lâm Huy Nhuận quay về sự cô đọng, chắt lọc với vẻ đẹp của thứ ngôn ngữ tinh luyện, kỳ khu, nói ít gợi nhiều. Trong một bài thơ ngắn mà có thể chỉ ra vô số các kết hợp ngôn từ lạ lùng: “mây vẩy cá, lá thủy tinh, trăng bã trầu, mệt nhàu môi, đom đóm nhóm mưa, hắt bừa lên đêm”…

Nhiều bài lục bát khác của ông mang vẻ đẹp kỳ ảo, nửa hư nửa thực, phảng phất nét ma quái huyền hoặc liêu trai: “Nửa ngây nửa ngợm nửa người/ Nửa con chó đá hú lời sói hoang/ Nửa con chữ ngủ mơ màng/ Giữa nghìn pho sách úa vàng u ơ/ Nửa đời hái một chùm mơ/ Ngậm trăng ngậm gió nằm chờ sông nghiêng” (Nửa ngây). Bên cạnh thể lục bát, tập “Mùi mưa – Sông mắt ướt” còn có những bài thơ ngũ ngôn ấn tượng. Cũng là viết về nỗi một mình trong đêm, nhưng không còn “gió loạn” như thuở trước: “Đêm không còn náo động/ Bóng tối vây phủ mùng/ Nến thương ta đêm rỗng/ Hao sáng đến tận cùng” (Ngọn nến đêm).

Cuối cùng, với thể thơ 7 chữ nhiều khổ, Lâm Huy Nhuận qua tập thơ này, có thể nói đã làm một cuộc hành trình về cốt cách phương Đông, hướng đến sự vô vi và giác ngộ. “Đường mây” là bài thơ tiêu biểu, thấm đẫm thiền tính trong tập thơ mới này: “Thời gian ngưng đọng đầy vai áo/ Thân nặng gánh già một trời non/ Dối lừa cậy đêm ngầm thay áo/ Móm mém nghé cười miệng héo hon/ Đừng tưởng ai đi rồi sẽ đến/ Ngày thu lội lá đá vương đầy/ Thuyền ai đọng hương vừa cập bến/ Vội lại đường xưa hun hút mây”.

Trải qua bao giông bão, thăng trầm, thơ Lâm Huy Nhuận giờ đây đã thấp thoáng bóng dáng của những nụ cười. Là một người am hiểu về tử vi và Dịch học, tôi nghĩ Lâm Huy Nhuận đã thổi được cái bầu không khí nghìn năm ấy vào trong những bài thơ của mình, làm nên một giọng điệu đặc biệt, khó trộn lẫn với bất kỳ ai.

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.