Kỷ niệm với nhà thơ Phạm Tiến Duật

Tôi học cùng trường cấp 3 Hùng Vương (nay là trường THPT Hùng Vương, thị xã Phú Thọ) với nhà thơ Phạm Tiến Duật (sinh năm 1941), cùng là bộ đội Trường Sơn thời chống Mỹ, song trước năm 1975 tôi ít gặp anh. Anh Duật hơn tôi 6 tuổi, học cấp 3 (khoá 1958-1961) trước tôi 4 năm.

Sau khi tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm I Hà Nội năm 1964, nhà thơ đã xung phong lên đường nhập ngũ, trở thành người lính trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Phục vụ trong quân đội 14 năm thì có 8 năm chiến đấu ở Trường Sơn, nơi Phạm Tiến Duật “không chỉ trở thành một nhà thơ lớn mà còn là một chiến sĩ xuất sắc luôn có mặt ở những nơi bom đạn ác liệt nhất”.

Kỷ niệm với nhà thơ Phạm Tiến Duật -0
Phạm Tiến Duật - nhà thơ của đường Trường Sơn huyền thoại.

Trước khi vào Trường Sơn, anh Duật là giáo viên văn hóa Trung đoàn ôtô 225, Tổng cục Hậu cần. Năm 1965, “Trung đoàn ôtô 225 được chỉ đạo xây dựng thành hai tiểu đoàn xe, một vào binh trạm 10, một vào binh trạm 12 hoạt động trên địa bàn Quảng Bình, theo đường 12 lên Cổng Trời sang Lào”(1). Lúc này Quảng Bình, Vĩnh Linh và nhiều trọng điểm trên địa bàn hoạt động của Binh trạm 12 ở Trường Sơn đang bị máy bay Mỹ đánh bom, rải thảm dữ dội. Trung đoàn cần một số cán bộ chính trị, hậu cần về công tác ở binh trạm 12, anh Phạm Tiến Duật là người đầu tiên của trung đoàn đã xung phong đi binh trạm.

“Vào Binh trạm 12, hoạt động trong đội Văn hóa lưu động làm nhiệm vụ phổ biến chủ trương chính sách, động viên chiến đấu bằng hình thức văn nghệ”(2), anh Duật đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được cán bộ - chiến sĩ binh trạm, các đơn vị xe, công binh, thanh niên xung phong... tin yêu mến phục. Thời kỳ ở Binh trạm 12 và sau này ở Binh trạm 34, nhà thơ Phạm Tiến Duật đã sáng tác được nhiều bài thơ hay. Chùm thơ bốn bài: “Nhớ”, “Lửa đèn”, “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, “Gửi em, cô thanh niên xung phong” của anh đạt giải Nhất cuộc thi thơ do Báo Văn nghệ tổ chức năm 1969-1970 đã được sáng tác trong thời kỳ này.

Tôi vào chiến trường từ tháng 1/1966. Ở Trường Sơn, nhiều năm tôi ở đơn vị Cảnh vệ, Bộ Tham mưu, Đoàn 559. Đầu năm 1967, Trung tá Đoàn Lược, Trưởng ban quân lực của Đoàn (sau này là Đại tá, Tham mưu phó Đoàn 559) có chuyến đi công tác, thăm một số binh trạm và một số đơn vị công binh của Đoàn. Chuyến đi công tác này tôi được cử đi cùng. Trung tá Đoàn Lược quê ở Hạ Hòa, Phú Thọ. Thủ trưởng Lược người cao to, trông dữ tướng nhưng lại rất hiền, luôn gần gũi quan tâm đến cán bộ, chiến sĩ các đơn vị. Trên đường công tác, Thủ trưởng Đoàn Lược và tôi đã gặp nhà thơ Phạm Tiến Duật. Cuộc gặp gỡ giữa chiến trường thật cảm động vì cả ba người đều quê ở Phú Thọ, tôi lại học cùng trường cấp 3 với anh Duật. Ở chiến trường, tình đồng hương là tình cảm sâu nặng nghĩa tình. Tôi đưa anh Duật xem 3 bài thơ tôi mới sáng tác ("Bài ca Cảnh vệ", "Thơ viết trước giờ ra trận", "Ấm áp bản Lào"), anh đọc kỹ và góp nhiều ý kiến sâu sắc. Bài thơ “Bài ca Cảnh vệ” sau đó được in trong tập “Hoa thắm Trường Sơn” do Cục Chính trị, Đoàn 559 xuất bản năm 1967. Bài thơ “Ấm áp bản Lào” được đăng trên Báo Quân đội nhân dân.

Kết thúc chiến tranh, từ tháng 9/1976 tôi về dạy môn Ngữ văn Trường cấp 3 Hùng Vương. Năm 1980, nhân dịp kỷ niệm 35 năm ngày thành lập trường Hùng Vương, tôi được nhà trường cử đi Hà Nội mời anh Duật về nói chuyện với giáo viên và học sinh toàn trường. Sau đó các năm 1985, 1990, 1996, 2004 tôi đều được cử đi Hà Nội mời và đón anh Duật về trường.

Đúng ngày kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Trường THPT Hùng Vương (1/12/1945-1/12/1985), anh đăng trên Báo Nhân dân bài thơ “Giếng trường”, gửi gắm những tình cảm sâu nặng của mình đối với nhà trường. Anh đã gửi tặng hai tờ Báo Nhân dân có đăng bài thơ này (1 tờ tặng trường, 1 tờ tặng tôi). Năm 1983, xuất bản tập thơ “Vầng trăng và những quầng lửa” anh cũng gửi tặng nhà trường và tặng tôi tập sách quý này. Trong những lần gặp gỡ, tôi và anh Duật thường ôn lại những kỷ niệm ở Trường Sơn, trao đổi về thơ văn, về thế thái nhân tình.

Kỷ niệm với nhà thơ Phạm Tiến Duật -0
Nhà thơ Phạm Tiến Duật và tác giả bài viết về dự lễ Trường THPT Hùng Vương - thị xã Phú Thọ đón nhận danh hiệu Anh hùng Lao động (1/12/2004).

Nhà thơ Phạm Tiến Duật và nhà thơ Nguyễn Đình Ảnh cùng học một khóa trường cấp 3 Hùng Vương, cùng quê Phú Thọ, cùng học Khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm I Hà Nội (khóa 1961-1964), cùng nhập ngũ năm 1964, cùng tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến ngày đại thắng. Ngày 2/12/2006 anh Ảnh qua đời. Họa sĩ Đỗ Ngọc Dũng - Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Phú Thọ và tôi gọi điện báo cho anh Duật biết tin. Anh xúc động, đau buồn trước tin anh Ảnh mất. Những ngày này ở Hà Nội và Phú Thọ trời mưa, rét đậm. Là Tổng biên tập Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, xe con của cơ quan bận đi công tác, anh Duật đã một mình một xe máy đi trên 100 cây số từ Hà Nội về Vân Phú, Việt Trì để kịp về viếng bạn. Khi đến Việt Trì, mặt anh tím tái vì lạnh buốt.

Ngày 4/12/2007 nhà thơ Phạm Tiến Duật đã đi vào cõi vĩnh hằng. Nghe tin anh mất, cán bộ - chiến sĩ bộ đội Trường Sơn, thanh niên xung phong Trường Sơn, các văn nghệ sĩ, các thế hệ giáo viên - học sinh Trường THPT Hùng Vương ... rất đau buồn. Lễ tang nhà thơ Phạm Tiến Duật đã được tổ chức trọng thể, xúc động sáng 11/12/2007 tại nhà tang lễ Bộ Quốc phòng. Trên 1.000 người (trong đó có các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội, Hội Nhà văn Việt Nam, Ban liên lạc Bộ đội Trường Sơn toàn quốc (nay là Hội Truyền thống Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh Việt Nam), lãnh đạo thành phố Hà Nội - tỉnh Phú Thọ, Hội VHNT tỉnh Phú Thọ, Trường THPT Hùng Vương...) đã đến viếng và dự lễ truy điệu nhà thơ.

Dự lễ viếng và truy điệu, tôi xúc động sáng tác bài thơ “Anh Duật ơi!” viết về cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của nhà thơ Phạm Tiến Duật, trong bài thơ có đoạn:

Cả đời ít nghĩ đến mình
Say mê cái đẹp, lợi - danh chẳng màng
… Anh đi về cõi vĩnh hằng
Đường xa “Quầng lửa - vầng trăng” rạng ngời

Lễ an táng nhà thơ được tổ chức cùng ngày tại nghĩa trang Văn Điển, Hà Nội. Kết thúc lễ tang, một điều đặc biệt xưa nay chưa từng có đã có ở lễ tang này. Để tưởng nhớ nhà thơ Phạm Tiến Duật - người con ưu tú của đất Tổ vua Hùng, một nhà thơ quân đội mà tên tuổi gắn liền với con đường Trường Sơn huyền thoại, “một nhà thơ lớn, xuất sắc của nền thơ ca chống Mỹ cứu nước”, khi kết thúc lễ an táng, nhiều người đã nghẹn ngào xúc động hát vang bài hát “Trường Sơn Đông - Trường Sơn Tây” (Nhạc: Hoàng Hiệp, Thơ: Phạm Tiến Duật).

“Lửa đèn” và “Trường Sơn Đông - Trường Sơn Tây” - hai bài thơ được xếp trong những bài thơ hay nhất của văn học Việt Nam thế kỷ XX, với các tác phẩm mãi đi cùng năm tháng: “Vầng trăng quầng lửa” (tập thơ, 1970), “Thơ một chặng đường” (tập thơ, 1971), “Ở hai đầu núi” (tập thơ, 1981), “Vầng trăng và những quầng lửa” (tập thơ, 1983), “Nhóm lửa” (tập thơ, 1996), “Tiếng bom và tiếng chuông chùa” (trường ca, 2000), “Vừa làm vừa nghĩ” (tiểu luận, 2003), “Tuyển tập Phạm Tiến Duật” (thơ và trường ca, 2007), Phạm Tiến Duật Toàn tập (NXB Hội Nhà văn, 2009) v.v... Nhà thơ Phạm Tiến Duật được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật vào tháng 5/2012.

---------------

(1), (2) Nguồn: “Phạm Tiến Duật - thuở ban đầu”, ghi chép của Đại tá - nhà văn Nguyễn Việt Phương, nguyên Chính ủy binh trạm 12, Đoàn 559, Bộ đội Trường Sơn

Đoàn Hải Hưng

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.