Kỷ niệm nhỏ và một chút hiểu về Văn Cao

Năm 1987 theo sáng kiến của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường (Tổng thư ký) và tôi (Chánh văn phòng hội, đồng thời làm Chủ tịch Phân hội văn học, thuộc Liên hiệp Hội VHNT) đề nghị lãnh đạo tỉnh mời ba nhà văn Nguyễn Tuân, nhạc sĩ Văn Cao và nhà thơ Lưu Trọng Lư vào thăm Bình Trị Thiên.

Đây là những văn nghệ sĩ tên tuổi nổi tiếng của nước nhà. Văn Cao, Lưu Trọng Lư đồng ý ngay. Nguyễn Tuân vì lý do riêng xin được vắng. Tôi được giao làm công việc đối ngoại, lo ăn nghỉ và đưa các nhà văn thăm quan.

Đêm đầu nhạc sĩ Văn Cao, cùng phu nhân Nghiêm Thúy Băng thăm Phá Tam Giang bằng chiếc thuyền lớn của ngư dân. Nhạc sĩ luôn mang theo chai rượu trắng thỉnh thoảng uống một chén nhỏ (ông không bao giờ ăn thứ gì, dù chuẩn bị sẵn). Ông nói chuyện rất vui khi được vào thăm cố đô, được bồng bềnh như vầng trăng cuối tuần trên phá.

Chúng tôi chăm chú nghe. Tôi tốc ký trong đêm vào cuốn vở, giờ đọc mãi vẫn không ra? Hoàng Phủ Ngọc Tường thỉnh thoảng chen đôi câu chuyện về phá và nghề chài lưới bao đời nay. Chai rượu dần cạn, đến nỗi chị Băng giằng ly từ trên môi không cho ông uống. Quả vậy, hôm sau Văn Cao phải nhập viện mấy ngày liền vì chứng khô phổi. Tôi đưa nhà thơ Lưu Trọng Lư ra thăm thị xã Đồng Hới và quê nhà. Sau này, đọc “Đêm phá Tam Giang” mới thấy những câu thơ của ông thực mà siêu hình làm sao: “Tôi níu lấy mảnh lưới/ Lưới là cái cuối cùng/ Đang hắt tôi xuống biển”…

Kỷ niệm nhỏ và một chút hiểu về Văn Cao -0

Thực ra, chúng ta hay gọi ông là nhạc sĩ, bởi chỉ riêng bài “Tiến quân ca” (sau được chọn làm quốc ca) và số phận của nó đủ để hiểu tâm hồn một người gắn với tâm hồn thời đại như thế nào. Văn Cao còn là một nhà thơ, một họa sĩ tài danh trong nghệ thuật. Lĩnh vực nào ông cũng đều mang lại cho đời sống văn nghệ một dấu ấn riêng biệt.

Có thể nói Văn Cao, Phạm Duy và Trịnh Công Sơn là ba móng cầu vững chắc cho văn nghệ Việt Nam.

Năm 1976 “Mùa xuân đầu tiên” của Văn Cao ra đời. Ca khúc viết về đất nước sau bao nhiêu năm chiến tranh nay được đoàn tụ. Hãy nghe, “Người mẹ nhìn đàn con nay đã về/ Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên/ Nước mắt trên vai anh, giọt sưởi ấm đôi vai anh/ Niềm vui phút giây như đang long lanh…”. Tinh thần hòa hợp dân tộc đã có từ đó: “Từ đây người biết quê người/ Từ đây người biết thương người/ Từ đây người biết yêu người”. Ông đã nói sớm và nói đúng tấm lòng của mỗi người Việt Nam trên hai chiến tuyến. Lại một lần nữa số phận của bài hát và tinh thần hòa giải dân tộc không được suôn sẻ. Hình như ta đang say sưa với chiến thắng mà quên những trắc ẩn buồn thương khác. “Mùa xuân đầu tiên” không được đón tiếp như “Sông Lô”, “Đàn chim Việt"… mà phải trên 10 năm sau mới đặt đúng vị trí đáng ra phải có. Cần khẳng định, “Mùa xuân đầu tiên” là bài hát hay nhất nói về sự thống nhất đất nước, đã thu về một mối.

Thơ Văn Cao cùng một điệu tâm hồn trải ra với tiếng đàn trầm sâu trong tâm hồn ông. Tài danh về thơ ẩn trong tài danh âm nhạc. Ta nghe “Suối mơ”, “Bến xuân”, “Cung đàn xưa”, “Trương Chi”… hay “Mùa xuân đầu tiên” như đã nghe tiếng thơ cất lên rồi.

Có ai cưỡi ngựa về Kinh Bắc
Tôi gửi nhờ đem hộ lá thư?
Trời hỡi! Ốm nằm trong quán trọ
Bạn bè còn lại mấy bài thơ…

Ta mới thấm thía hai câu thơ: “Chiều ốm cũng đang chầm chậm xuống/ Sương mù chìm lẫn lá vàng thưa” (Ai về Kinh Bắc).

Ngay những năm 1957, ông đã khởi xướng sự đi tới của thơ. Ông nói: “Cái mới đâu phải là những cái không sẵn có. Sự làm mới những cái sẵn có cũng là một phương pháp sáng tạo”. “Cuộc đời và Nghệ thuật của nhà thơ phải là những dòng sông lớn càng trôi càng thay đổi, càng trôi càng mở rộng” (Mấy ý nghĩ về thơ - VC). Tư tưởng thơ ca nghệ thuật của ông luôn thay đổi, mới mẻ chẳng khác gì chúng ta đang mong sự tiến triển của nền văn chương nghệ thuật hôm nay.

Những con nhện nhiều chân
Cuốn lấy tôi càng đông
Cuốn cả chai rượu mạnh
Chai rượu rơi...
vỡ tung sủi bọt
Tôi bừng tỉnh
và liếm môi

(Ma men)

Bài thơ trên được viết từ 1988, lúc sự đổi mới trong văn nghệ của ta mới khởi xướng. Ông đã còn hiện đại hơn cả hiện đại. Lùi lại một năm (1987) ông đã viết: “Thời gian qua kẽ tay/ Làm khô những chiếc lá/ …Riêng những câu thơ… còn xanh/ Riêng những bài hát…còn xanh/ Và đôi mắt em…như hai giếng nước” (Thời gian). Cái mới thường trực trong Văn Cao không đợi ai nhắc nhở, đó là một hiện tượng của văn học phương Đông thời hiện đại. Rất trữ tình mà cũng rất triết lý. Phải thừa nhận, Văn Cao đầy ắp sự sáng tạo. R. Tagore cho rằng: “Giới hạn của cái vô giới hạn là cá tính: Thượng đế thuộc về con người khi người sáng tạo” là vậy. Bài học sáng tạo trong văn chương nghệ thuật là mãi mãi, không có giới hạn, không có bến bờ nào neo lại.

Bể học khôn lường. Một chút ít hiểu về nhà thơ, nhạc sĩ Văn Cao cho tôi cả biển trời mênh mông. Tôi bơi mãi trong thế giới vô cùng vô tận bao thế hệ cha anh đã đi qua.

Quảng Bình, 29/8/2023

Hoàng Vũ Thuật

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.