Kinh thành Thăng Long và những viên quan đứng đầu

Trải qua các triều đại phong kiến: Lý, Trần, Hồ, Lê sơ, Mạc, Lê Trung Hưng, Thăng Long luôn là trung tâm chính trị, kinh tế, quốc phòng, ngoại giao, văn hóa... của cả nước; là thành trì, bản doanh của chính quyền trung ương; là một đơn vị hành chính lớn, đặc biệt, có vị trí trọng yếu liên quan đến sự hưng vong của quốc gia.

Vì thế, triều đại nào cũng đặc biệt quan tâm đến việc tiến cử, tuyển cử người đứng đầu lãnh đạo mọi việc của Kinh đô. Do chiến tranh, tao loạn, sách xưa nói về họ đến nay phần lớn đã bị thất lạc, hư nát, chúng tôi chỉ dựa vào một số bộ sử liệu mà trong đó cũng chỉ nói về một số người đứng đầu kinh đô với số chữ rất khiêm tốn hầu bạn đọc.

Kinh thành Thăng Long và những viên quan đứng đầu -1
Tổng đốc Hoàng Diệu.

Ngay từ buổi đầu khi Lý Công Uẩn dời kinh đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, triều Lý đã lập ra một cơ quan để trông coi công việc hành chính, dân sự, trị an... ở Kinh đô mà người đứng đầu gọi là "Bình bạc ty". Đến triều Trần, niên hiệu Thiệu Long 8 đổi là "Đại an phủ sứ". Đến năm Khai Hựu 13 (1341) đổi lại là "Đại doãn kinh sư", sau đó đổi thành "Trung đô tổng quản". Đến triều nhà Hồ, chuyển Kinh đô vào Thanh Hóa thì người đứng đầu thành Thăng Long đổi thành "An phủ sứ Đông Đô". Sang triều Lê sơ, kinh đô trở lại Thăng Long, niên hiệu Hồng Đức (1470) trở về sau lập thành phủ Phụng Thiên thì người đứng đầu cai quản Kinh đô gọi là "Phủ doãn Phụng Thiên", cũng có khi gọi là "Tri phủ Phụng Thiên".

Những người được tiến cử làm Đại an phủ sứ, Kinh sư đại doãn hay Đại doãn phủ Phụng Thiên... hầu hết là các bậc đại khoa, đang làm quan tại triều, tài cao đức trọng, cương trực, liêm khiết, rất có uy tín. Nguyễn Trung Ngạn là một ví dụ. Ông đỗ Hoàng Giáp khoa Giáp Thìn, triều vua Trần Anh Tông khi mới 16 tuổi. Ông là một người suốt đời toàn tâm toàn ý phụng sự đất nước, nhân dân. Thời kỳ ông giữ vị trí đứng đầu Kinh đô Thăng Long thì tài năng và đức độ của ông càng tỏa sáng. Vì thế, sau khi ông mất, nhân dân Thăng Long đời đời tưởng nhớ công ơn. Đến nay, sau gần 7 thế kỷ, ở Hà Nội vẫn còn 7 nơi thờ phụng ông.

Người viết bài này chỉ xin kể một chuyện để thấy rõ phẩm cách của ông: Năm Nhâm Tý (1312), Nguyễn Trung Ngạn được giao giữ chức Gián quan. Gián quan là người có quyền can gián vua, đàn hặc (giám sát) các quan, nên các triều đại phong kiến thường chọn những viên quan có học thức cao, có tuổi đời già dặn, kiến văn uyên bác. Nguyễn Trung Ngạn mới 24 tuổi mà được giao chức vụ này, chứng tỏ ông là người tài năng đức độ tỏa sáng rất sớm.

Chính sử còn ghi: năm 1317, Thượng hoàng Trần Anh Tông ngự ở cung Trùng Quang có ý muốn xuất gia theo cửa Phật, điều đó được thể hiện trong bài thơ "Chiêu ẩn" ngài mới viết. Viết xong, ngài đưa bài thơ ấy tặng Nguyễn Trung Ngạn. Nguyễn Trung Ngạn xem xong thì từ chối không nhận. Dưới chế độ phong kiến bất cứ ai từ chối ân sủng vua ban thì bị khép vào tội "khi quân", sẽ bị trừng trị rất nặng. Nguyễn Trung Ngạn biết thế, nhưng khi ấy ông nhận thức rằng, đất nước vừa trải qua ba cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông hao người tốn của, đất nước hãy còn ngổn ngang đổ nát, biên cương từ Bắc chí Nam vẫn chưa yên hàn mà thượng hoàng lại bỏ đi tu thì rõ ràng là không hợp đạo lý với một quân vương. Thật may, Thượng hoàng nhận thấy sự can gián của Nguyễn Trung Ngạn là đúng đắn nên ngài không trị tội và ngài dừng lại việc đi tu..

Kinh thành Thăng Long và những viên quan đứng đầu -2
Tổng đốc Nguyễn Tri Phương.

Một viên quan đứng đầu Kinh thành Thăng Long thứ hai mà tôi muốn nói đến là Trương Đỗ. Ông quê ở huyện Thanh Miện, Hải Dương, sau lên Nghi Tàm, Thăng Long định cư. Trương Đỗ cũng là người học cao hiểu rộng, thi đỗ Thái học sinh dưới triều hậu Trần, nghĩa là tương đương Đệ tam giáp tiến sĩ của các triều đại phong kiến sau này.

Đời vua Trần Duệ Tông (1337 - 1377), Trương Đỗ được cử giữ chức Ngự sử đại phu, trong giai đoạn đất nước ta rơi vào tình trạnh rối ren loạn lạc. Nội bộ hoàng tộc nhà Trần xảy ra tranh giành ngôi báu, giết hại lẫn nhau. Năm 1371, quân Chiêm Thành thừa cơ kéo sang cướp phá đến tận Kinh đô Thăng Long, thiêu trụi cung điện, nhà cửa, sổ sách, thư tịch... của triều đình. Vua Trần Duệ Tông đã nhìn ra tài năng và đức độ của Trương Đỗ nên cử ông giữ chức Trung đô phủ tổng quản (người đứng đầu Thăng Long), mang trọng trách khắc phục những đổ nát sau cuộc cướp phá, mang lại sự bình yên cho trong thành cũng như ngoài nội.

Nhưng sự bình yên cũng chỉ kéo dài được một thời gian. Năm 1376, vua Chiêm là Chế Bồng Nga lại đem quân ra cướp phá vùng đất Hóa Châu, thuộc các tỉnh Quảng Nam, Thừa Thiên, Quảng Trị bây giờ. Vua Trần Duệ Tông sai Hành thiện Đỗ Tử Bình vào trấn giữ. Chế Bồng Nga đem 10 mâm vàng dâng tiến nhưng Tử Bình đã ỉm đi làm của riêng, rồi tâu với vua rằng Chế Bồng Nga ngạo mạn, vô lễ, cần phải đem quân trị tội. Duệ Tông cả tin, nổi giận, tự mình chỉ huy quân sĩ hành quân chinh phạt.

Vốn biết tính vua hồ đồ, thường làm theo ý chủ quan của mình, Trương Đỗ với trọng trách Ngự sử đại phu đã dùng lời lẽ chí tình can gián: "Chiêm Thành chống lệnh, tội chết cũng chưa xứng. Nhưng nó ở cõi phía Tây xa xôi, núi sông hiểm trở, nay bệ hạ mới lên ngôi, chính hóa chưa thấm đến nơi xa, nên sửa sang văn đức để họ tự đến. Nếu họ không theo thì sai tướng đi đánh cũng chưa muộn".

Duệ Tông không nghe. Trương Đỗ tiếp tục khuyên can lần thứ hai rồi lần thứ ba, với hy vọng vua sẽ dần đổi ý. Nhưng Duệ Tông vẫn một mực làm theo ý mình. Trương Đỗ bèn cởi mũ áo từ quan, tự khép mình vào tội giữ chức Ngự sử đài, có nhiệm vụ can gián vua mà không làm tròn bổn phận. Năm Đinh Tỵ (1377), Trần Duệ Tông kéo quân vào nước Chiêm. Chế Bồng Nga bày mưu lừa được Duệ Tông. Kết cục đội quân của triều đình bị quân Chiêm đánh bại. Duệ Tông và nhiều tướng lĩnh tử trận.

Một vị quan đứng đầu thành Thăng Long thứ ba mà tôi muốn nhắc đến, đó là Phủ doãn Bùi Tất Thắng, quê huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Ông đỗ Hội nguyên Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Qúy Sửu, niên hiệu Hoàng Định 14 (1613) đời vua Lê Kính Tông. Khoa thi này có hơn 200 sĩ tử dự thi, chỉ có bảy người đỗ, Bùi Tất Thắng đứng đầu bảng. Ông được bổ nhiệm Phủ doãn phủ Phụng Thiên, tức là người phụ trách Kinh thành Thăng Long, đúng vào thời kì Kinh đô Thăng Long rơi vào thảm trạng vô cùng rối ren.

Kinh thành Thăng Long và những viên quan đứng đầu -0
Đền thờ Nguyễn Trung Ngạn ở xã Thổ Hoàng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.

Với vai trò làm quan đứng đầu kinh thành Thăng Long, Bùi Tất Thắng đã góp phần mang lại sự bình ổn cho kinh thành. Không những thế, ông còn làm bao việc lớn lao, hữu ích được nhân dân kinh đô ghi nhận. Bằng chứng là ngay trong năm Vĩnh Tộ thứ 4 (1622) ông cùng với những viên quan trong triều đình tổ chức khoa thi Hương và năm sau là khoa thi Hội đạt kết quả tốt đẹp, đỗ được 7 tiến sĩ. Hàng loạt đền chùa ở kinh đô bị đốt phá và hư nát cũng được ông cho trùng tu xây mới như quán Huyền Thiên, chùa Hưng Hà, chùa Long Quang, đền Mục Thận, chùa Đồng Môn... Trong năm Vĩnh Tộ 5, Bùi Tất Thắng lại được triều đình cho phép tổ chức khảo sát các cống sĩ để chọn người có tài đức sử dụng, đặc biệt là tổ chức đoàn sứ bộ sang Trung Quốc, củng cố thêm sự đoàn kết lân bang, giữ được bình yên cho đất nước...

Còn có thể nói thêm về những người đứng đầu Kinh đô Thăng Long được sử sách lưu lại với những tài năng phẩm hạnh cao vời như Đại doãn kinh sư Lê Giốc, khi giặc chiếm kinh đô, chẳng may sa vào tay chúng thì đã nêu cao khí phách anh hùng, chịu chết chứ không cúi mình khuất phục kẻ địch. Như Phủ doãn Phụng thiên Nguyễn Hoàn có con trai tên là Trác và một người trong họ tên là Châu; trong khoa thi Hương năm Giáp Ngọ (1774), hai người này đã gặp các quan trường nói rằng Bồi tụng Nguyễn Hoàn nhờ họ chấm bài cho hai người được đỗ. Tin đồn loang đến tai Nguyễn Hoàn. Ông lập tức cho gọi con trai đến mắng: "Mày nhác học, bất tài, không xứng thi đỗ, lại còn lên mặt kiêu căng, không biết xấu hổ sao?". Rồi ông dâng khải xin chúa Trịnh Sâm cho Trác, Châu phải thi lại ngay giữa phủ đường và đánh hỏng cả hai...

Sang triều Nguyễn, Kinh đô chuyển vào Huế, thành Thăng Long sáp nhập với một số địa phương lân cận, gọi là tỉnh Hà Ninh, người đứng đầu gọi là Tổng đốc. Tuy Thăng Long không còn là Kinh đô nhưng vẫn giữ một vị trí trọng yếu của đất nước. Đặc biệt sang triều vua Tự Đức, khi mà từng phần lãnh thổ rơi vào tay giặc Pháp, bản thân vua cũng đứng về phía "chủ hòa" nhưng một số viên quan được bổ ra làm Tổng đốc Hà Nội lại thuộc phe "chủ chiến", như Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu. Họ thực sự là những anh hùng dân tộc. Họ chỉ huy quân sĩ chiến đấu với quân Pháp đến viên đạn cuối cùng. Họ đã hy sinh anh dũng. Tên của họ xứng đáng được đặt tên cho hai con đường đẹp nhất hai mặt hoàng thành Thăng Long - Hà Nội hôm nay.

Lê Hoài Nam

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.