Kịch tác gia Ngọc Thụ: Sức bền của sự sáng tạo

Cách đây hai năm, kịch tác gia Ngọc Thụ cho ra đời tập chuyên luận "Nghĩ và viết", lúc đó ông bước vào tuổi 77. Đọc những trăn trở và suy nghĩ về nghề của ông, tôi ngỡ tập sách này mang ý đồ tổng kết sự nghiệp giống như NSND Trọng Khôi cho in cuốn tạp văn "Sân khấu và đời diễn" khép lại sự nghiệp nghệ thuật của đời mình. Hóa ra, không phải.

Với Ngọc Thụ tôi kinh ngạc chứng kiến sau "Nghĩ và viết"; những hoạt động nghề nghiệp dường như lại sung mãn và hào sảng hơn. Nhìn lại những gì Ngọc Thụ làm được trong hai năm qua, tôi chợt nghĩ: Hình như sau khi sơ kết những giai đoạn sống và làm nghệ thuật của mình bằng "Nghĩ và viết" để rút ra những kinh nghiệm, Ngọc Thụ lại tiếp tục nỗ lực cống hiến, vươn cao hơn cho giai đoạn sáng tạo tiếp theo.

Nếu lấy kịch bản "Lướt trên sóng dữ" viết về Trần Khánh Dư là kịch bản đầu tiên sau khi in tập tiểu luận "Nghĩ và viết" (lúc này gia tài kịch bản của Ngọc Thụ đã dư con số 105) thì vào những ngày trung tuần tháng ba - khi cả nước đang oằn mình vì đại dịch COVID-19, Ngọc Thụ lại hăm hở viết kịch bản mới nhất. Đây là kịch bản thứ ba trong 9 kịch bản ông sáng tác vào tuổi 78.

Kế liền kịch bản về Trần Khánh Dư, Ngọc Thụ bắt tay vào viết kịch bản về ca sĩ có hai dòng máu Mỹ - Việt đi tìm mẹ ruột trong vài ba thập niên. Kịch bản này được viết gần như song song với kịch bản về đề tài lực Công an. Sau đó, với cảm hứng khi Đoàn Kịch nói Hải Phòng dựng lại kịch bản về người chiến sĩ cộng sản Nguyễn Đức Cảnh, Ngọc Thụ viết "Vòng xoáy cuộc đời".

Mực chưa khô (Ngọc Thụ sáng tác bằng cách viết bút mực cổ truyền), ông bất ngờ gọi điện cho tôi thông báo việc được tỉnh nọ đặt viết kịch bản về một chiến sĩ cộng sản tiền bối khác. Hai năm với 6 kịch bản, đối với một kịch tác gia sân khấu U80 quả là một kỉ lục kì diệu, chứng tỏ sức sáng tạo mạnh mẽ, cảm hứng tràn đầy và một thái độ làm việc chuyên nghiệp và nghiêm túc với niềm say mê lớn bất chấp tuổi tác.

Đọc số kịch bản Ngọc Thụ viết trong hai năm qua, hơn một lần tôi cảm nhận được chuyên môn của một kịch tác gia lão làng trong nghề. Ông đã từng viết những kịch bản được liền một lúc hàng chục đoàn kịch trong cả nước dàn dựng. Đó là những kịch bản có sức sống lâu bền với hàng ngàn suất diễn sau vài chục năm. Thậm chí đến hôm nay, không ít kịch bản của Ngọc Thụ đã trở thành kịch mục nổi tiếng, làm nên thương hiệu và thành vốn "kiếm sống" cho không ít đoàn kịch.

Đó là kịch bản "Hoàng hậu ba tư" (hơn 10 đơn vị sân khấu dựng), "Lửa phi trường", "Những cánh chim trong bão", "Yếm đào áo trận", "Thằng mồ côi và công chúa ăn mày"… Từ kết cấu chặt chẽ với những mảng miếng trò đầy tính sân khấu kịch, gợi mở rất nhiều cho việc dàn dựng của đạo diễn, đến những lời thoại ăm ắp hành động, đủ sức cho diễn viên tung hứng khi giao đãi với nhau và bộc lộ tính cách nhân vật…

Tất cả trở thành sở trường của Ngọc Thụ thủa sung sức và trong những kịch bản mới viết, không những được lưu giữ mà còn được nâng lên, phát triển thành thạo. Chính thế nên sự thâm hậu, chuyên nghiệp trong nghệ thuật viết kịch của Ngọc Thụ càng được mài giũa, bổ sung, khẳng định tố chất của một tác giả tài hoa, gạo cội trong làng sân khấu Việt Nam.

Trong sân khấu, người viết kịch bản được duy danh bằng hai cách gọi là soạn giả và tác giả. Qua nghiên cứu sơ bộ, soạn giả là dành cho những người chuyển thể, hoặc sáng tác dựa trên những cốt chuyện trong kho tàng chuyện cổ tích dân gian, truyện nôm khuyết danh, hay các tác phẩm văn học… Còn tác gia là những người viết nên kịch bản sân khấu từ chính sự sáng tạo toàn diện của mình từ cốt chuyện, nhân vật. Với Ngọc Thụ, có thể dùng cả hai cách gọi đều đúng. Trong gia tài hơn 105 kịch bản của ông, 2/3 là sáng tác, 1/3 là phóng tác và gần 20 kịch bản chuyển thể.

Trong gia tài đồ sộ kịch bản của Ngọc Thụ, số kịch bản mang nhãn soạn giả có nhiều kịch bản thành công trên sàn diễn. Đáng kể nhất là kịch bản hai tập "Hoàng Hậu Ba Tư". Trong kịch bản này, Ngọc Thụ lộ rõ khả năng chọn được những chuyện có cốt phù hợp với thể loại sở trường của ông là cải lương, đồng thời ông biết lẩy ra, làm nổi những nhân vật, tình tiết hấp dẫn.

Còn khi là một tác giả thì các kịch bản tiêu biểu như "Cánh chim trong bão", "Di sản mùa xuân"… lại lộ rõ tài năng kết cấu kịch bản theo phương pháp cổ điển, từ cách đặt, phát triển và giải quyết mâu thuẫn. Qua 9 kịch bản Ngọc Thụ viết ở tuổi 77-78 thì cả hai khả năng soạn giả và tác giả vẫn được duy trì một cách bền bỉ và linh hoạt.

Bên cạnh việc sáng tác, kịch tác gia Ngọc Thụ ở tuổi bát thập vẫn tỏ ra năng lực của một người hoạt động chuyên nghiệp về sân khấu. Khi làm Trưởng ban sáng tác của Hội Nghệ sĩ Sân khấu Hà Nội, ông vẫn là người có công lớn trong việc tổ chức các Trại sáng tác từ khâu chọn, lựa kịch bản, đến việc quản lý trại và nghiệm thu các tác phẩm của trại viên.

Trại viên của Trại sáng tác sân khấu Hà Nội vẫn nhận ra sự cần mẫn trong công việc của một Trưởng ban - Trại trưởng, sự sắc sảo trong những nhận xét, đánh giá tác phẩm của đồng nghiệp. Với vị trí là Chủ tịch Câu lạc bộ tác giả phía Bắc, trong hai năm qua, ông là người đi đầu trong việc tìm những mối liên kết giữa địa phương và tác giả kịch bản để tạo cảm hứng và tìm đầu ra cho sáng tác. Việc tổ chức thành công trại sáng tác kịch bản sân khấu tại Bắc Ninh mùa hè 2018 là một ví dụ điển hình.

Một cảnh trong vở diễn "Chia tay lần cuối" của Đoàn kịch Công an đoạt Huy chương Vàng hội diễn ngành Công an 1990.
Một cảnh trong vở diễn "Chia tay lần cuối" của Đoàn kịch Công an đoạt Huy chương Vàng hội diễn ngành Công an 1990.

Ngoài vai trò của một Trưởng ban - một hội viên lâu năm có tay nghề vững vàng, Ngọc Thụ còn là một "nhà tham luận" tích cực trong hầu hết các cuộc hội thảo do Hội Nghệ sĩ Sân khấu Hà Nội hay Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam tổ chức. Tôi có ấn tượng mạnh mẽ nhất khi Ngọc Thụ là đại biểu "nổ phát súng" đầu tiên khi ông giơ tay phát biểu ở Đại Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam lần thứ 9 với những đề xuất táo bạo, nhận được sự tán thưởng của hầu hết các đại biểu khi ông lên tiếng về việc cần bảo vệ quyền lợi sáng tạo của hội viên, chống lại quyền lợi nhóm trong việc dàn dựng kịch bản.

Là một tác giả chuyên nghiệp có thâm niên, Ngọc Thụ luôn đứng hàng đầu khi tham gia các cuộc vận động sáng tác của các địa phương, các ngành. Dường như rất ít khi vắng bóng ông ở các cuộc vận động sáng tác của Bộ Công an, Nhà hát Kịch Quân đội, Nhà hát Chèo Quân đội, các tỉnh Bắc Ninh, Quảng Ninh cả trong hai vai nhà tổ chức và nhà viết kịch.

Tôi có may mắn được cùng Ngọc Thụ tham dự trại sáng tác của ngành Công an vào mùa hè 2019 và những gì diễn ra càng tạo dấu ấn sâu sắc của kịch tác gia đàn anh này đối với tôi. Gần trọn một tháng - không kể thời gian từ khi ngành Công an phát động đợt sáng tác "Vì bình yên cuộc sống, vì an ninh Tổ quốc" - ở tuổi 78 Ngọc Thụ đã cùng các trại viên ngồi trên ôtô vượt qua hơn 6.000 cây số dưới thời tiết thay đổi gần như bốn mùa, khi là cái nắng gay gắt của xứ Nghệ, khi là tiết cuối thu, đầu đông ở cao nguyên Lâm Viên.

Ông đã trải qua tất cả với nghị lực và sức chịu đựng của mình để cho ra kịch bản về đề tài Công an được ban tổ chức và đồng nghiệp đánh giá cao. Kịch bản "Héo hắt miền quê" viết về lực lượng Công an ông được nhận giải A; kịch bản "Lướt trên sóng dữ" được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trao giải A

Gần một tháng cùng Ngọc Thụ tại trại viết Bộ Công an, tôi nhận ra kịch tác gia mặc dù lớn lên, trưởng thành, tạo dựng sự nghiệp và thành danh ở Hà Nội, nhưng chất mộc mạc, nghĩa tình của người con vùng lúa Thái Bình vẫn hiện rõ trong ông. Đó là cách sống chân thật, đôi khi còn thô ráp, đầy nghĩa tình thủy chung bên cạnh sự sắc sảo, linh hoạt của con người làm nghệ thuật đất Thăng Long. Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật chính là sự ghi nhận của Nhân dân và nhà nước đối với công lao mà Ngọc Thụ đã cống hiến cho nghệ thuật, cho nền sân khấu Việt Nam.

Nguyễn Hiếu

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.