Khúc hát tình yêu, cưới xin của đồng bào dân tộc Mông

Dân tộc Mông vùng Tây Bắc luôn yêu chính mình. Họ luôn cất lên những lời ca, khúc hát trong lễ hội. Đó là mạch sống, nguồn cảm hứngđã có từ lâu. Là niềm tự hào lớn, niềm tin yêu lớn trong cả cộng đồng dân tộc. Lời ca, khúc hát, nụ cười mãi mãi trong tâm, nó đã khơi dậy tình yêu quê hương, đất nước. Từng lời ca, tiếng hát say sưa như lửa cháy trong đêm hội. Họ luôn giữ tình yêu ấy như giữ bếp lửa trong nhà.

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về văn hóa, và chúng ta có thể hiểu theo các cách tiếp cận khác nhau. Nghĩa gốc (tiếng Hán) thì văn hóa là cái đẹp. Theo cách nhìn phương Đông, hình thức đẹp biểu hiện trước hết trong lễ, nhạc… đặc biệt trong ngôn ngữ, cách ứng xử. Nó biểu hiện thành một hệ thống các chuẩn mực, giá trị ứng xử được mọi người chấp nhận và hưởng ứng.

Văn hóa còn là dòng chảy của các chuẩn mực, các giá trị, niềm tin, các truyền thống, các nghi lễ… văn hóa được hình thành qua thời gian khi mọi người cùng làm việc, cùng giải quyết các vấn đề, cùng đương đầu với các thách thức văn hóa tượng trưng cho một hệ thống độc lập bao gồm các giá trị trong một thời gian dài. Văn hóa đã nuôi dưỡng bầu không khí cởi mở, dân chủ, hợp tác, tin cậy và tôn trọng lẫn nhau.

Người Mông đã lưu giữ nhiều tầng văn hóa khác nhau. Nhưng đặc trưng nhất, bản sắc nhất là các bài hát thuộc loại tiếng hát tình yêu, tiếng hát cưới xin, tiếng hát cúng ma. Sau đây, ta sơ qua tiếng hát tình yêu để thấy rõ tình cảm, giá trị văn hóa ẩn sâu trong đó.

múa trong lễ hội gầu tào ở sapa.jpg -0
Múa trong lễ hội Gầu Tào ở Sapa.

Không gian hát giao tiếp của đồng bào dân tộc Mông

Phổ biến nhất là thanh niên nam nữ hát với nhau, trong bất cứ trường hợp nào thuận lợi. Đi làm nương, làm ruộng, vào rừng lấy củi, lấy nấm, đi chơi phố, chơi chợ, những buổi rảnh rỗi công việc v.v… gặp nhau là họ hát vui với nhau. Không những hát để giải trí, để thử tài nhau mà chính trong những trường hợp hát như thế này, các chàng trai, cô gái được một dịp “tìm hiểu” lẫn nhau, và không ít những cuộc tình duyên đẹp đẽ đã nảy sinh từ trước những dịp hát xướng thú vị này.

Hát trong lễ hội Gầu tào (còn gọi là lễ hội sải sán): tạm dịch là lễ hội leo núi

Tập quán người Mông ăn tết kéo dài, dịp tết thường mở hội Gầu tào. Người Hán, người Sã và một số đồng bào Mông thường gọi theo tiếng quan hỏa là sải sán (Hội leo núi). Hội Gầu tào được tổ chức trên một bãi đất tương đối bằng phẳng, giữa trồng một cây bương hoặc cây tre giống như cây nêu ở miền xuôi, trên ngọn treo miếng lụa hoặc nhiễu đỏ và một lọ nhỏ trong đựng rượu. Hội thường mở trong bốn ngày liền, thu hút được nhiều già trẻ, trai gái. Ngoài những trò chơi dân tộc như đánh pao, đánh võ, đua ngựa, bắn súng, bắn nỏ còn có múa khèn, thổi sáo, chọi chim, chọi gà v.v… và trai gái thường hát xướng với nhau. Họ hát với nhau hoặc trực tiếp đối đáp bằng miệng, hoặc dùng hai ống nứa bong bóng nối bằng một sợi chỉ dài, đứng cách xa nhau mà hát và nghe trong ống (cách hát này gọi là hát ống). Người hát đông, người dự xem và nghe hát cũng đông. Các cuộc hát này gọi là hát hội (chù gâu tào).

Từng đôi nam nữ tình tự riêng với nhau. Điều rất đáng chú ý là thanh niên nam nữ dân tộc Mông khi tình tự với nhau, họ rất thích hát lên bằng lời bằng miệng. Họ dùng khèn, kèn lá, sáo, đàn môi… thổi thành nhạc điệu, người nghe hiểu được ngay nội dung bài hát mà “đối tượng” của mình đang diễn tả. Lối tự tình qua nhạc cụ này rất phổ biến, thanh niên nam nữ Mông nói chung là có một biệt tài, một năng khiếu thẩm nhạc riêng - nghe nhạc mà hiểu được tình ý của người chơi nhạc - chẳng khác gì các nhạc sĩ chuyên nghiệp nghe “nhạc thuần túy” vậy.

Giá trị chủ yếu của tiếng hát tình yêu

Giá trị của tiếng hát tình yêu là ở chỗ các bài hát phản ánh được trung thực những tình cảm, những ước mơ lành mạnh của nhân dân lao động dân tộc Mông: Tình yêu chân chính, lòng chung thủy, hạnh phúc gia đình. Đó là những điều người ta thiết tha, mong mỏi, được nói lên nhiều nhất. Bên những yếu tố chính ấy, nội dung nhiều bài cũng hướng vào phê phán các mặt tiêu cực của con người trong tình yêu, nhất là vấn đề phụ bạc lẫn nhau. Thái độ phê phán có nhiều vẻ: Hoặc đau xót, cay chua mà kết án, hoặc mỉa mai chì chiết, hoặc phẫn nộ đả kích. Từ các bài “Tiếng hát tình yêu”, ta có thể nhận thức được khá đầy đủ về nhiều mặt đời sống xã hội, đời sống tình cảm của người Mông, càng thấy họ là người coi trọng tín nghĩa. Các ông mối “thảo luận” với nhau về mọi nghi thức, điều khoản cưới xin (tất nhiên là phải dựa trên ý kiến của hai gia đình)

Tiếng hát cưới xin: Đây là những bài hát thường chỉ do nam giới hát nhân dịp đám cưới. Người Mông gọi chung là “gầu xống”. Loại này thường chia ra:

Hát nghi thức: Tục lệ cũ của người Mông, khi cưới vợ, nhà trai trước tiên phải cử người đến “đánh tiếng”- Người này phải là người còn đủ đôi - Sau khi “đánh tiếng” đạt kết quả, bấy giờ mới chính thức cử hai ông mối tới nhà gái. Nhà gái cũng phải cử hai ông mối ra tiếp. Các ông mối thảo luận với nhau về mọi nghi thức, điều khoản cưới xin (tất nhiên là phải dựa trên ý kiến của hai gia đình) với tính cách là các đại diện.

Mỗi đám cưới thường phải trải qua ba lễ: Lễ hỏi, lễ trả và lễ cưới (đón dâu).

Hai ông mối của nhà trai, ngay từ bữa rượu tiễn chân từ nhà trai ra hỏi vợ, đã phải hát những bài hát có tính chất nghi thức của đám cưới rồi (hát các bài nói về việc lấy vợ lấy chồng, hứa hẹn làm tròn nhiệm vụ với gia đình nhà trai….). Họ mang lễ hỏi tới nhà gái (nhà gái đã cử sẵn hai ông mối tiếp). Từ việc xin nhà gái mở cửa, nói rõ ý định của mình, xin chỗ treo ô, xin nước rửa mặt, xin chỗ ăn ngủ… Tất cả mọi việc, các ông mối nhà trai đều phải hát và các ông mối nhà gái hát đáp lại. Hôm sau, mời họ hàng nhà gái tới, ông mối nhà trai bàn việc chính thức, nhà gái thách cưới (dùng “que thách” để nói rõ số tiền và lễ vật treo cưới). Đôi bên điều đình thỏa thuận với nhau ra sao, nhất nhất các ông mối phải dùng bài hát mà trao đổi ý kiến với nhau. Sau lễ hỏi, hai ông mối nhà trai trở về báo lại cho nhà trai biết tình hình để lo liệu lễ trả và lễ cưới. Trong lễ trả, các ông mối dẫn chú rể mang lễ vật sang nhà gái, trao nhận lễ vật từng phần, từng thứ, bốn ông mối vẫn phải dùng bài hát “nói” với nhau. Xong xuôi mọi việc mới quyết định ngày giờ đón dâu. Trong lễ đón dâu (lễ cưới) các ông mối vẫn giữ vai trò chủ chốt và “nói” bằng bài hát.

Tóm lại: tất cả bài hát các ông mối hát trong các lễ nói trên của một đám cưới gộp lại thành một phần của gầu xống. Các bài này mang tính chất hát nghi thức, có quy tắc, có nhạc điệu tương đối ổn định. Vì vậy, tuy là dân ca nhưng tính chất dân gian của nó có phần bị hạn chế.

Hát vui chơi trong đám cưới: Trong lễ cưới, người dự tiệc rượu thường ca hát với nhau. Người ta hát những bài vui, chúc mừng cô dâu, chú rể, mời nhau uống rượu, kể chuyện vui cười, hát đố hát giải, hát trêu chọc đùa cợt lẫn nhau. Các bài nội dung đều xoay quanh việc cưới xin, vui mừng, hợp thành một phần nữa của gầu xống

Trong tiệc rượu cưới, không phải người ta chỉ hát các bài thuộc gầu xống. Đây là một dịp đượcgặp gỡ, người ta không bỏ lỡ. Vì vậy, trong đám cưới, ngoài các bài gầu xống người ta còn hát các bài khác. Cần than thân mồ côi, làm dâu góa bụa, người ta hát tiếng hát mồ côi, tiếng hát làm dâu; Trai gái tìm hiểu yêu đương nhau thì cùng nhau hát ''Tiếng hát tình yêu''. Có thể nói chỗ nào có tiệc vui mừng, có tiệc rượu là ở đấy có hát, có khi chỉ có hai bên nam giới ngồi uống rượu với nhau họ cũng kéo một cuộc hát rất dài. Hát là một nhu cầu trong đời sống tinh thần của người Mông.

Các nhạc cụ cùng giãi bày sắc thái tình cảm

k.jpg -0
Mùa khèn trong lễ hội Gầu tào của người Mông.

Khèn, kèn lá, đàn môi, sáo… là những nhạc cụ thông dụng của người Mông. Đặc biệt là kèn lá, đàn môi và khèn… người ta giãi bày tâm sự với nhau bằng khèn, than thân bằng khèn, cúng lễ cũng bằng khèn, nghĩa là diễn tả mọi tâm tư, tình cảm, suy nghĩ của mình ra bằng khèn. Nghe khèn có thể hiểu được những điều người thổi khèn muốn nói, muốn hát. Khèn cũng như kèn lá và đàn môi là những nhạc cụ gắn liền với dân ca, do đó có thể nói nội dung của khèn, kèn lá hoặc đàn môi, rất nhiều bài là dân ca, hoặc ngược lại, dân ca được biểu hiện qua hình thức các nhạc điệu ấy. Vậy nên, các bài hát mà được sử dụng dụng cụ làm nền thì càng tăng thêm sức thuyết phục, truyền cảm, dễ đi vào lòng người.

Giá trị của văn hóa là rất lớn, chúng ta cần bảo vệ và giữ gìn. Trước hết mỗi làng xã, thôn bản trong hương ước cần xây dựng bầu không khí dân chủ: Cởi mở, hợp tác, cùng chia sẻ hỗ trợ lẫn nhau; mọi người đều được tôn trọng, luôn được coi trọng và có cơ hội thể hiện, phát triển các khả năng của mình.

Giá trị văn hóa bản làng chỉ phát triển, trong đó phải có sự hòa nhập của cộng đồng dân tộc. Ý nghĩa Fonclore được phát triển hết cỡ, đó là trí tuệ của nhân dân, trí tuệ của cộng đồng dân tộc.

Đỗ Văn Dinh

Các tin khác

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Bộ phim truyền hình "Tận hiến" (Điện ảnh CAND sản xuất) vừa khép lại hành trình phát sóng nhưng dư âm mà bộ phim mang lại vẫn tiếp tục lắng đọng trong lòng khán giả. Giữa dòng chảy của điện ảnh chính luận, "Tận hiến" tạo dấu ấn không chỉ bởi câu chuyện về những chiến sĩ tình báo CAND hoạt động và sẵn sàng hy sinh trong thầm lặng mà còn ở cách làm phim giàu tâm huyết và khát vọng.

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Có một số bạn yêu thơ hỏi tôi về việc: "Các nhà thơ trẻ hiện nay quan tâm đến hình tượng thơ trong sáng tác như thế nào?". Theo tôi, việc xây dựng hình tượng thơ có vai trò đặc biệt quan trọng trong sáng tác thơ ca của những người viết, bởi hình tượng thơ chính là nơi nhà thơ gửi gắm tư tưởng, cảm xúc, cách nhìn về con người và cuộc đời.

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Nằm trong các hoạt động kỷ niệm 50 năm Ngày Thành phố Sài Gòn - Gia Định chính thức vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/7/1976 - 2/7/2026), Hội sách Thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh lần 6 - năm 2026 với chủ đề: “Em vui đọc sách, học bao điều hay” vừa được khai mạc với nhiều hoạt động phong phú, sáng tạo dành cho thiếu nhi, phụ huynh, giáo viên và cộng đồng.

Để truyện tranh tham gia vào công nghiệp văn hóa

Để truyện tranh tham gia vào công nghiệp văn hóa

Truyện tranh là một thị trường đang bị bỏ ngỏ ở Việt Nam. Điều chúng ta thiếu không phải là những tác giả tài năng mà là một hệ sinh thái đủ mạnh để nuôi dưỡng, bảo vệ và phát triển các giá trị sáng tạo. Những vấn đề này được đặt ra trong tọa đàm "Kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo truyện tranh cho người Việt" diễn ra mới đây tại Hà Nội.

“Màu dân tộc” trong dòng chảy đương đại

“Màu dân tộc” trong dòng chảy đương đại

Gần đây, nhiều hoạt động lan tỏa và tôn vinh những giá trị văn hóa truyền thống, di sản mang đậm sắc màu dân tộc như vẻ đẹp của tranh Đông Hồ đã thu hút sự quan tâm của giới trẻ...

Phá án ma túy bằng sự tỉnh táo và nhân văn

Phá án ma túy bằng sự tỉnh táo và nhân văn

Vừa lên sóng những tập đầu tiên, bộ phim truyền hình “Lửa trắng” đã thu hút sự quan tâm của đông đảo khán giả. Từ việc khai thác cuộc đấu tranh chống tội phạm ma túy trong thời đại số, bộ phim khắc họa chân dung người chiến sĩ CAND với sự dũng cảm, bản lĩnh và trí tuệ cùng những thông điệp nhân văn sâu sắc.

Hoạt hình Việt ra thế giới

Hoạt hình Việt ra thế giới

Lần đầu tiên, một bộ phim hoạt hình dài của Việt Nam "Trạng Quỳnh nhí: Truyền thuyết Kim Ngưu" được mời tham dự Annecy International Animation Film Festival - liên hoan phim hoạt hình lớn nhất hành tinh. Theo đạo diễn Trịnh Lâm Tùng, đây là cơ hội để những người làm hoạt hình Việt Nam được cất lên tiếng nói của mình, được giới thiệu những giá trị văn hóa mà chúng ta đã gìn giữ qua biết bao thế hệ.

Bước tiến của Điện ảnh Việt tại DANAFF

Bước tiến của Điện ảnh Việt tại DANAFF

Đà Nẵng sẽ trở thành tâm điểm của điện ảnh khu vực khi đăng cai "Liên hoan phim châu Á - Đà Nẵng" (DANAFF) lần thứ IV (diễn ra từ ngày 28/6 đến ngày 4/7). Với chủ đề “Nhịp cầu từ châu Á ra thế giới”, DANAFF năm nay được tổ chức quy mô hơn, nhiều hoạt động chuyên sâu hơn và định hướng rõ nét trong việc thúc đẩy công nghiệp điện ảnh Việt Nam hội nhập quốc tế.

Một số tác phẩm của hoạ sĩ Bùi Xuân Phái đã được sử dụng trong nhiều sản phẩm âm nhạc.

Bản quyền tác phẩm hội họa trong sáng tạo đương đại

Mới đây, việc ê-kíp sản xuất MV của ca sĩ Sơn Tùng M-TP sử dụng hình ảnh tác phẩm “Tàn Chỉ” của họa sĩ Lệ Giang không xin phép, cũng như nhiều sản phẩm nghệ thuật, quảng cáo, điện ảnh từng khai thác tranh của các họa sĩ đã đặt ra câu hỏi: Sử dụng tác phẩm hội họa trong sáng tạo nghệ thuật như thế nào, đâu là ranh giới giữa cảm hứng sáng tạo và hành vi xâm phạm bản quyền?

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Hiện tượng suất chiếu của phim Việt có doanh thu bằng 0

Hiện tượng suất chiếu của phim Việt có doanh thu bằng 0

"Sân nhà" đã không còn là lợi thế khi một loạt phim Việt phải sớm rút khỏi phòng vé vì doanh thu thấp. Tự "nâng chuẩn" chất lượng có lẽ là con đường duy nhất nếu phim Việt muốn giữ chân khán giả trong cuộc đua khốc liệt này.

Phát động cuộc thi viết về “Trang sách & mái trường”

Phát động cuộc thi viết về “Trang sách & mái trường”

Cuộc thi viết về “Trang sách & Mái trường” không chỉ là hoạt động chào mừng dấu mốc 70 năm của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam mà còn là lời tri ân dành cho các thế hệ thầy cô giáo, học sinh, người làm sách và những người đã góp phần vun đắp tri thức cho đất nước.

Xây dựng cộng đồng đọc: Để trẻ em lớn lên cùng trang sách

Xây dựng cộng đồng đọc: Để trẻ em lớn lên cùng trang sách

Trong một thế giới mà trẻ em đang bị các thiết bị điện tử chi phối mạnh mẽ như hiện nay, việc làm thế nào để trẻ em có thói quen đọc sách, có cơ hội lớn lên cùng trang sách trong những mùa hè không chỉ là nỗ lực của phụ huynh mà còn cần sự chung tay của cả cộng đồng...

Nhà thơ Vân Anh: Hành trình tìm “trầm”

Nhà thơ Vân Anh: Hành trình tìm “trầm”

Nhà thơ Vân Anh tự bạch: "Suốt một Đời Thơ xin tự nguyện làm một phu trầm để bóc dần vỏ bọc thời gian/ giữa đời ngậm ngải tìm trầm... Nghĩa Nhân". Đây có thể xem là tuyên ngôn tinh thần cho toàn bộ hành trình thơ của Vân Anh.