Cảm hứng hồi sinh
Là một trong những người lãnh đạo phong trào Cách mạng Tháng Tám năm 1945 tại Huế, Tố Hữu nhớ lại: “Có lẽ trong lịch sử ở Thừa Thiên Huế, chưa có một ngày hội lớn và đẹp đến thế”. Những vần thơ trong “Huế tháng Tám” của ông sẽ sống mãi cùng lịch sử: “Ngực lép bốn nghìn năm, trưa nay cơn gió mạnh/ Thổi phồng lên. Tim bỗng hóa mặt trời/...Gió gió ơi! Hãy làm giông làm tố/ Cuốn tung lên cờ đỏ máu thơm tươi/ Vàng vàng bay, đẹp quá, sao sao ơi!.../ Từ muôn phương theo gót nện rầm rầm/ Việt Nam! Việt Nam!”. Một đóng góp của Tố Hữu trong tập “Từ ấy” là thổi bùng lên cảm hứng hồi sinh mà bài thơ này là tiêu biểu. Các hình ảnh tương phản: “Lép”, “gió mạnh”, “mặt trời”; các động tính từ mạnh, các danh tính từ có sức biểu cảm lớn: “Thổi phồng lên”, “gió”, “giông tố”, “cuốn tung lên”, “máu thơm tươi”, “vàng”, “sao”, “thiên đường”, “rầm rầm”... tạo ra một không khí bừng bừng sôi động.
Xuân Diệu có hai câu thơ đặc sắc: “Nước cũ bốn nghìn năm/ Theo cờ mới, trẻ như hai mươi tuổi” (Ngọn quốc kỳ). Hai chữ “cờ mới” như cái bản lề nghệ thuật khép mở hai phạm trù “cũ/mới”, làm bật ra ý nghĩa: sự hồi sinh thần kỳ của dân tộc. Cách mạng đã đem đến sức sống trẻ trung nhất, mạnh mẽ, tươi tắn nhất cho đất nước ở vào độ tuổi đẹp nhất của cuộc đời. Không gian trước đó u ám. Cách mạng về, bừng lên rực rỡ: “Có mấy bữa mà Việt Nam thắm cả/ Máu nén lâu từ ấy đã bùng ra/ Những cửa lều xơ xác cũng ra hoa/ Trên gốc cũ nẩy một chồi sống mới”.
Cảm hứng vũ trụ
Diễn ra trên một không gian địa lý cụ thể, nhưng vì là cuộc cách mạng thật sự lớn lao, nên được cảm nhận bằng một không gian vũ trụ. Trong “Vui bất tuyệt”, Tố Hữu hoàn thiện mô hình lễ hội giải phóng với niềm vui vô biên “tuyệt đích”: “Biển sống trào lên thành đại hội/ Muôn màu vũ trụ kết hoa đăng/ Xôn xao mặt đất, trăng là trăng/ Chảy xiết ngân hà, muôn sao vàng rực/ Mặt trời đỏ huyền kỳ mọc lên, ôi náo nức/ Nhạc trần gian cuồn cuộn bốc hồng trần!”. Từ trong thảm cảnh cái chết (năm 1945, dân ta 2 triệu người chết đói), cách mạng đem đến cho dân ta sự sống. Đúng như Tố Hữu viết trong “Ba mươi năm đời ta có Đảng”: “Đời ta gương vỡ lại lành/ Cây khô cây lại đâm cành nở hoa”. Một sự đổi thay triệt để “muôn màu vũ trụ kết hoa đăng”. Cả nhân gian tràn ngập hình ảnh, màu sắc, âm thanh. Tất cả như phát sáng rực rỡ. Tất cả như “xôn xao”, “cuồn cuộn”. Tất cả đều “náo nức”... Cả một vũ trụ “trào lên”, “chảy xiết”. Trong trùng trùng hình ảnh, lá cờ tung bay trong “muôn sao vàng rực”, trong “màu trời đỏ”, là hình tượng nổi bật, tiêu biểu nhất cho niềm vui đổi đời.
Còn gì vui hơn lễ hội mừng đất nước giải phóng đâu. Không chỉ có ở người, niềm say sưa, phấn khởi tràn vào cả thiên nhiên, cây cối, cảnh vật. Có một biểu tượng kép đặc biệt là gió - cờ sóng đôi phấp phới bay trong nhiều tác phẩm thơ nhạc: “Gió reo, gió reo, gió Việt Nam reo/ Mây bay, mây bay, mây hồng tươi sáng/ Gió ca trên non, gió ngợi trên đèo/... Cờ Việt Nam oanh liệt gió mừng bay” (Xuân Diệu - Ngọn quốc kỳ). Cái tôi trữ tình chuyển hóa thành cái ta cộng đồng. Cái ta cộng đồng lại được nâng lên thành một chủ thể vũ trụ. Lời bài hát “Ba Đình nắng” của Bùi Công Kỳ phổ nhạc từ thơ Vũ Hoàng Địch, như bay lên cùng gió: “Gió vút lên, ngọn cờ trên kỳ đài phấp phới/ Gió vút lên, đây bao nguồn sống mới dạt dào”. Luồng gió cách mạng đã thổi tới nguồn sinh khí mới cho cuộc đời. Vũ Hoàng Chương trong “Nhớ về Hà Nội vàng son” miêu tả: “Ba mươi sáu phố, ngày hôm ấy/ Là những nhành sông đỏ sóng cờ/ Chói lọi sao vàng, hoa vĩ đại/ Năm cánh hoa xòe trên năm cửa ô”. Tả “gió” mà không có chữ “gió” nhưng vẫn cảm nhận và hình dung ra gió thổi (sóng cờ). Còn là sự liên tưởng đặc sắc: Hà Nội như một bông hoa nở năm cánh vĩ đại. Hoa có hương, có sắc. Hoa là đẹp, là quý, là thiêng liêng. Trong không gian ấy, lòng người như bay lên.
Thiết tha, tin tưởng, thiêng liêng
Trong những ngày đất trời như nở hoa, hình tượng Bác Hồ trở nên ấm áp, thiêng liêng vô cùng. Vì Bác là người đem lại niềm vui. Trong “Theo chân Bác” của Tố Hữu, Bác là biểu tượng của chủ nghĩa yêu nước, yêu hòa bình, tự do (Hôm nay sáng mồng Hai tháng Chín/ Thủ đô hoa, vàng nắng Ba Đình). Vừa là lãnh tụ, Bác cũng vừa là đồng bào, đồng chí. Tất cả bình đẳng, hòa nhập (Ta nhìn lên Bác, Bác nhìn ta).
Nhà thơ Xuân Thủy miêu tả Bác bình dị, mộc mạc nhưng ngang tầm “trời cao đất rộng”: “Trên Chính phủ lễ đài lồng lộng/ Hồ Chí Minh, Người bỗng hiện ra/ Ka-ki bộ áo hiền hòa/ Long lanh đôi mắt đậm đà chòm râu.../ Nghe tôi nói, có rõ không đồng bào?/ Thưa rõ lắm, trời cao đất rộng/ Lời mỗi lời rung động tâm can/ Chao ôi! Nước mất nhà tan/ Hôm nay lại thấy giang san bốn bề” (Ngày Độc lập).
Có một bài thơ đặc biệt của nữ sĩ Hằng Phương, nhan đề “Kính gửi Hồ Chủ tịch” mang phong cách cổ thi về hình thức với nhiều từ Hán Việt trang trọng, nhưng nội dung thật mới mẻ, thời sự. Hai câu kết tôn vinh Bác là vị anh hùng dân tộc: “Anh hùng mở mặt giang sơn/ Lưu danh thiên cổ, vẻ vang giống nòi”. Cuối bài trang trọng ghi: “Tháng Giêng, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, năm thứ hai (2/1/1946). Hằng Phương kính bút”.
Hòa nhập, trách nhiệm, cống hiến
Trong bối cảnh đất nước vừa giải phóng, chính quyền non trẻ, kinh tế kiệt quệ, ngân sách trống rỗng, thù trong giặc ngoài đe dọa nền độc lập, niềm vui tự chủ được chuyển hóa thành trách nhiệm kiến quốc. Bác Hồ phát động “Tuần lễ vàng”. Từ ngày 17 đến 24/9/1945, nhân dân cả nước ủng hộ Chính phủ tài sản có giá trị quy đổi là 20 triệu đồng Đông Dương và 370 kg vàng. Tiền vàng lúc này rất quý, nhưng quý hơn là sự ủng hộ của dân, niềm tin của dân.
Ở ngày “vươn mình” hôm nay, đọc lại những câu ca dao ngày ấy càng thấy trân trọng biết bao những tấm lòng vàng động viên, khuyến khích nhau ủng hộ cách mạng: “Nước nhà độc lập là vui/ Không cần vàng bạc, cần đời tự do/ Tự do đắt mấy cũng mua/ Máu xương đổi lấy cũng chưa đắt gì.../ Này cô! Vàng giữ làm chi?”. Với dân ta, gia đình đồng nghĩa với Tổ quốc. Tổ quốc hạnh phúc, gia đình hạnh phúc: “Em còn bốn lạng hồi môn/ Với hai chiếc nhẫn đính hôn chạm rồng/ Đôi ta thuận vợ thuận chồng/ Đem dâng Tổ quốc một lòng như nhau/ Vàng giúp nước, mất đi đâu?/ Tự do, độc lập, về sau hưởng nhiều”.
Mạch cảm hứng khát vọng vươn mình
Năm 1945, “Vui bất tuyệt” bắt đầu từ việc giành quyền làm chủ, hôm nay niềm vui ấy được tiếp nối bằng năng lực làm chủ tương lai. “Vui bất tuyệt” là một dạng năng lượng tinh thần chuyển hóa thành hành động đưa đất nước bay vào bầu trời hạnh phúc. Năm 1945, “gió” làm tung bay những lá cờ đỏ, thì hôm nay, là những “luồng gió” mới của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Ngày ấy hàng triệu con người “cuốn lôi” nhau trong dòng thác cách mạng. Hôm nay là sức mạnh cộng hưởng được tạo nên từ niềm tin, tri thức, sáng tạo, đoàn kết.
Năm 1945, là niềm vui được sống. Những năm sau đó là niềm vui được hòa bình, thống nhất, Đổi mới, hội nhập. Hôm nay, là niềm vui được sáng tạo, cùng nhau kiến tạo tương lai. “Vui bất tuyệt”, vì thế, không chỉ là vui với thành quả hôm qua, còn là niềm vui luôn biết biến niềm tin thành hành động, biến khát vọng thành thành tựu và biến thành tựu hôm nay thành điểm tựa cho những bước đi xa hơn.
Nhớ về những ngày đầu của chính quyền non trẻ, nhà thơ Xuân Diệu viết: “Cái thuở ban đầu Dân quốc ấy/ Nghìn năm chưa dễ đã ai quên”. Đó là những ngày không thể quên của kỷ nguyên độc lập làm tiền đề, nền tảng mở ra kỷ nguyên thống nhất, tiến tới kỷ nguyên đổi mới, để đến hôm nay, đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, thịnh vượng, hiện thực hóa niềm mong mỏi của Bác Hồ đưa nước nhà sánh vai với các cường quốc năm châu.