. Đằng sau những nỗ lực tìm kiếm hài cốt liệt sĩ là những câu chuyện cảm động, mang ý nghĩa từ quá khứ và bài học về giá trị của hòa bình, độc lập hôm nay. Ước hẹn, khát vọng hòa bình trở thành cảm hứng xuyên suốt mọi thời đại.
Những kỉ vật của liệt sĩ Huỳnh Văn Quên trong quá trình quy tập hài cốt liệt sĩ tại công viên Lê Thị Riêng (TP Hồ Chí Minh), đã kể cho chúng ta câu chuyện về một thời trai trẻ. Kỉ vật sau hơn nửa thế kỉ nằm trong lòng đất nhưng sức sống của tình yêu cuộc sống, tình yêu quê hương, đất nước, lứa đôi như ngọn lửa chưa khi nào tắt, đặc biệt là trong tâm trí bà Nguyễn Thị Lệ (79 tuổi) - người bạn gái của liệt sĩ - vẫn vẹn nguyên như thuở đôi mươi...
Suốt 58 năm qua, bà Nguyễn Thị Lệ giữ lời hẹn, chờ liệt sĩ Huỳnh Văn Quên, với câu nói đầy xúc động: “Tuy chưa một lần cưới hỏi, nhưng tâm tôi đã gả cho ông Quên rồi”. Chữ “gả” không chỉ là mối lương duyên lứa đôi mà chính là khẳng định niềm tin tuyệt đối ở người chiến sĩ đã “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Ngày 18/7/2026, Sở Nội vụ tỉnh Tây Ninh đã ban hành quyết định về việc bổ sung thân nhân liệt sĩ, công nhận bà Nguyễn Thị Lệ (79 tuổi, ngụ ấp 3, xã Vàm Cỏ, tỉnh Tây Ninh) là vợ của liệt sĩ Huỳnh Văn Quên.
Các thế hệ người Việt Nam luôn nhớ về các cuộc kháng chiến và sự hy sinh của các liệt sĩ với niềm tôn kính. Ngày nay, khi có thêm nguồn tư liệu, chúng ta lại càng hiểu rõ hơn về niềm tin của hậu phương dành cho các chiến sĩ ngoài mặt trận. Tình cảm mà bà Lệ dành cho liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và bao người vợ, người yêu ở quê nhà trong chiến tranh chính là sức mạnh tinh thần, là biểu tượng sức mạnh Việt Nam. Cho đến hôm nay, sự thủy chung vẹn nguyên ấy còn là một thông điệp mang ý nghĩa văn hóa gửi đến thế hệ trẻ: Không chỉ là sự thủy chung của tình yêu mà còn là sự thủy chung của quê hương, nghĩa tình Nam - Bắc. Các anh sống mãi trong tâm hồn quê hương và những người yêu thương. Một tình yêu không khiên cưỡng, gò ép mà đầy tự nguyện, xuất phát từ vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam.
Qua thời gian, những quan niệm sống đều có sự tương tác với những luồng suy nghĩ mới xuất hiện và biến đổi. Có điều, những gì là chân giá trị sẽ luôn trường tồn, không thể bị che khuất. Gần đây, khi internet phát triển, mạng xã hội bùng nổ, việc cập nhật thông tin và chia sẻ diễn ra thuận lợi. Mỗi cá nhân đều có thể tham gia các diễn đàn, thậm chí tạo ra những diễn đàn bàn thảo về một chủ đề đang “nóng” trong xã hội. Bên cạnh lợi ích, không tránh khỏi mặt trái khi những kẻ có dụng ý xấu lợi dụng tiện ích của công nghệ.
Lợi dụng sự thiếu hiểu biết các thông tin về lịch sử, văn hóa và lập trường tư tưởng thiếu vững vàng của không ít người, các thế lực xấu đã đưa ra những chiêu bài tuyên truyền núp bóng sau những từ khóa: “khai phóng”, “tự do học thuật”, “quyền phản biện” để đánh tráo khái niệm, ngụy biện, phủ định thành tựu của cách mạng, vị thế của đất nước và công lao các thế hệ cha anh...
Một trong những đối tượng độc giả mà những thế lực thù địch nhắm đến là giới trẻ. Công bằng mà nói, người trẻ hôm nay rất yêu giá trị truyền thống. Nhìn từ việc họ bỏ công sức sưu tầm các vật dụng, để cách phục dựng nghệ thuật truyền thống (ẩm thực, chế tác nhạc cụ, trang phục...) đủ cảm nhận được điều đó. Khi nhìn những chiếc đồng hồ lên dây cót, ấm trà cũ, nghề thủ công... mới thấy sự trân quý của họ. Đó là nét đẹp văn hóa của thế hệ mới, giúp chúng ta có những khoảng lặng suy ngẫm về những gì đã qua.
Thật đáng tiếc, vẫn có một bộ phận người trẻ tiếp cận lịch sử theo hướng phiến diện, cảm tính. Từ lâu, nhiều người tỏ ra lo ngại khi thấy các em thuộc sử sách nước ngoài (qua phim ảnh) hơn là tường tận lịch sử dân tộc. Thích nghe chuyện dã sử hơn chính sử, thích nghe kể về mưu mẹo hơn đọc các công trình khoa học, hóng tin vỉa hè hơn báo chí chính thống... Chính “lỗ hổng” về kiến thức và cách tiếp cận đã tạo ra cơ hội để các luồng tư tưởng độc hại lợi dụng tuyên truyền, hướng theo mục đích hạ bệ, chia rẽ...
Có một số bạn trẻ hình dung về chiến tranh, về sự hy sinh, về những người vợ hậu phương qua câu chuyện phiếm được thêm thắt, tạo ra “dị bản” lúc trà dư, tửu hậu từ một ai đó, để rồi từ đó đưa ra những nhận định phiến diện, thiếu khách quan về lịch sử. Họ đâu biết đến những người vợ trẻ từng “mòn chân bên cối gạo canh khuya” thủy chung chờ ngày chiến thắng của đất nước, ngày gia đình đoàn tụ. Họ đâu biết cái giá của chiến thắng là sự hy sinh của cả dân tộc, từ em nhỏ đến cụ già góp công, góp sức, cả nước đồng lòng vì một lí tưởng cao cả. Cuộc kháng chiến thắng lợi bởi chúng ta là một dân tộc anh hùng.... Trong lịch sử đấu tranh cách mạng, có nhiều tấm gương liệt sĩ hy sinh khi tuổi mới đôi mươi như: Liệt sĩ CAND Bùi Thị Cúc (tên thật là Trần Thị Lan, quê ở làng Vân Mạc, xã Vân Du, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên) hy sinh năm 20 tuổi (15/5/1950); liệt sĩ Phạm Văn Cường, Trung úy Công an tỉnh Lai Châu, hy sinh năm 2001 (khi đó anh mới 25 tuổi)... và rất nhiều tấm gương khác.
Khi chiến tranh đã lùi xa với sự chiêm nghiệm và nhìn nhận, người viết cho rằng, chính sự thủy chung son sắt đã góp phần hình thành nhân cách cũng như chi phối đến cách tiếp cận nhận thức về lịch sử, gợi mở giá trị tinh thần bền vững. Không có chuyện thời ấy, thời bây giờ, sự dũng cảm và thủy chung luôn bất biến và bất tử.
Việt Nam là đất nước có nền văn minh lúa nước, ứng xử với thiên nhiên bằng sự tôn trọng và uyển chuyển. Từ đó, hình thành nên tính cách điềm đạm, khoan dung, ôn hòa nhưng không vì thế mà đánh mất bản lĩnh và ý chí. Trong ca dao, tục ngữ, hò vè chỉ ca ngợi thiên nhiên, tình yêu đôi lứa, đưa hình ảnh rồng, hạc, con trâu, con gà... vào nghệ thuật với vẻ đẹp hiền hòa, thân thiện. Thế nhưng, suốt mấy ngàn năm lịch sử, khi kẻ thù xâm lăng, bụi tre ngà cũng trở thành vũ khí quật khởi. Chúng ta đánh giặc bằng khát vọng muốn lập lại nền hòa bình, yêu thiên nhiên, nhân văn, nhân ái, mong muốn xây dựng kỉ nguyên bứt phá, rực rỡ.
Trước những tấm gương hy sinh cao cả, mỗi người Việt Nam đều tự hứa với lòng mình sẽ làm tốt hơn nữa để xây dựng đất nước giàu đẹp, đền đáp tinh thần yêu nước lớn lao ấy. Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu từng nói: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”. Sự thống nhất của nước nhà như ước nguyện của Người đã trở thành hiện thực từ hơn 50 năm trước và cho đến hôm nay chúng ta còn nhận thức được sự thống nhất trong tinh thần, tư tưởng, trong cảm hứng của thời đại trên con đường phía trước luôn có truyền thống cách mạng của các thế hệ cha anh là điểm tựa tinh thần. Lời ước hẹn từ quá khứ cũng là niềm tin hướng đến tương lai...