Kể nốt chuyện về Hồng Hà nữ sĩ

Câu chuyện chừng như đã vãn nhưng thấy tôi bày tỏ muốn tìm hiểu thêm về đời tư của Hồng Hà nữ sĩ, ông Đoàn Doãn Nam, hậu duệ đời thứ 17 dòng họ Đoàn làng Giai Phạm (huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên) bèn nhắc ông Đoàn Doãn Lực, hậu duệ đời thứ 18 và là trưởng tộc của dòng họ Đoàn, vào nhà thờ cụ Đoàn Doãn Nghi để mang ra cho tôi xem cuốn gia phả dòng họ Đoàn.

Đó là cuốn gia phả được viết bằng chữ Việt có tựa đề “Đoàn Thị thực lục diễn ca. Tự lực văn chương truyền thế kỷ. Lê tiên Đoàn hậu ký thần tiên”. Tựa đề này đã chứng tỏ cuốn gia phả dành nhiều nội dung để nói về nữ sĩ Đoàn Thị Điểm. Ông Đoàn Xuân Mai, hậu duệ soạn thảo từ nguyên văn chữ Hán tự sang chữ nôm, quốc ngữ Việt Nam thời kỳ đó vào năm Kỷ Sửu (1949). Điều lý thú là ông Đoàn Xuân Mai đã viết gia phả theo thể thơ song thất lục bát, một thể thơ của người Việt và chính thể thơ này Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đã dịch “Chinh phụ ngâm khúc” được Đặng Trần Côn viết bằng chữ Hán sang chữ Nôm (Chữ của người Việt).

a.jpg -1
Đền thờ Đoàn Thị Điểm mới được khánh thành ở quê nhà của bà.

Phần viết về Đoàn Thị Điểm ông Đặng Xuân Mai đã viết: “Lại sinh một gái má đào/ Hoa cười ngọc nói khác nào thần tiên”. Câu thơ ấy đã khái quát khá rõ ràng về người con gái họ Đoàn lừng danh chữ nghĩa.

Lần theo từng trang gia phả tôi không khỏi ngỡ ngàng và trân kính người con gái họ Đoàn mang tên Đoàn Thị Điểm. Theo đó sau khi người cha là cụ Đoàn Doãn Nghi qua đời rồi vài năm sau người anh trai Đoàn Doãn Luân cũng vì bệnh nặng mất sớm. Bà Đoàn Thị Điểm đã gác chuyện riêng tư để chăm lo cho người chị dâu bị tàn tật và lo ăn học cho hai người cháu mồ côi cha.

Cô gái trẻ tài hoa đang độ xuân thì khi đó vừa dạy học, vừa tiếp nghề bốc thuốc nam của người cha truyền lại và như căng sức mình ra để lo chuyện nhà. Cô Đoàn Thị Điểm lúc đó được Quan Thượng thư Lê Anh Tuấn, vốn quen biết Hương cống Đoàn Doãn Nghi, lại mến tài văn chương và đức hạnh của Đoàn Thị Điểm nên đã nhận bà làm con nuôi.

Bà được đón về ở nhà của dưỡng phụ (cha nuôi) tại Trường Bích Câu, Kinh thành Thăng Long. Đây là thời gian bà đọc được rất nhiều sách quý trong kho sách của quan Thượng thư, nên vốn kiến thức được mở rộng, lại tiếp xúc với nhiều người danh gia, khoa bảng vì vậy tiếng tăm về tài ứng đối văn chương, về hoa tay khéo léo của tài nữ họ Đoàn càng lan xa.

Thời gian này Đoàn Thị Điểm cũng bỏ công sức ra để viết tập sách “Truyền kỳ tân phả” bằng chữ Hán và viết nối tiếp “Truyền kỳ mạn lục” mà Nguyễn Dữ viết còn dang dở. Tác phẩm này bà viết khá công phu về những người phụ nữ tài giỏi và tiết liệt.

Những tưởng những ngày tháng êm đẹp đó sẽ “nâng cánh” cho cô gái trẻ nhưng những biến cố trong gia đình đã làm cô phải thay đổi suy nghĩ và việc làm của mình.

Tôi ngừng đọc cuốn gia phả để hỏi ông Nam và ông Lực: “Vì sao bà Đoàn Thị Điểm lại lấy chồng muộn thế?”. Cả hai ông cùng im lặng vài giây rồi ông Lực cho hay: “Phần vì việc nhà khi đó muôn khó. Phần vì cụ Điểm chưa tìm được ý trung nhân”. Phần việc nhà muôn khó thì đã rõ rồi còn phần vì “chưa tìm được ý trung nhân” là điều tôi còn thắc mắc.

Lại nói về câu chuyện cậu Hương cống 15 tuổi Đặng Trần Côn do quá mến tài văn chương của người con gái Đoàn Thị Điểm hơn cậu 2 tuổi nên đã có lần cậu Hương cống trẻ “đánh tiếng”. Đó là những lần cô gái Đoàn Thị Điểm được cha nuôi dẫn đi thăm thú những người bạn văn chương trên đất Thăng Long. Và một trong những lần đó cậu Hương cống trẻ Đặng Trần Côn đã gặp cô gái Đoàn Thị Điểm.

Đôi trẻ gặp nhau và thực sự mến tài học, tài thơ văn và tài ứng xử của nhau nên họ mau chóng nên thân. Cậu Hương cống Đặng Trần Côn lúc đó đã mến nhan sắc của cô Điểm, nên sau một thời gian quen nhau cậu Đặng Trần Côn đã không giấu được tình cảm của mình với người con gái tài sắc, cậu đã làm thơ và gửi đến Đoàn Thị Điểm. Nội dung bài thơ là bày tỏ nỗi niềm, bày tỏ yêu thương. Nói cách khác là cậu Hương cống Đặng Trần Côn ngỏ ý cầu hôn. Ông Đoàn Doãn Lực cười cho hay: “Người đời đồn đại về câu chuyện tình đầu non trẻ giữa hai người”.

3.jpg -0
Bìa cuốn “Chinh phụ ngâm” do Đoàn Thị Điểm dịch.

Đoàn Thị Điểm nhận được bài thơ “tỏ tình” của cậu Đặng Trần Côn không viết thư trả lời nhưng có lần nói đùa với mấy chị em bạn bè: “Cái ông Cống miệng còn hơi sữa, làm thơ chưa xong mà lại đi nói chuyện vợ chồng”. Không ngờ câu nói đùa ấy lọt đến tai cậu Đặng Trần Côn, cậu tức lắm nhưng cậu không nói lại mà từ đó cậu chăm chỉ đèn sách, miệt mài học hành nhưng lại thi rớt ở kỳ thi Hội.

Tôi lại hỏi thêm: “Lý do gì mà sau này bà Đoàn Thị Điểm lại nhận lời làm vợ thứ ba của tiến sĩ Nguyễn Kiều?”. Cả hai ông lại cùng im lặng hồi lâu.

Thì ra giữa Đoàn Thị Điểm và tiến sĩ kiêm thi sĩ Nguyễn Kiều (Đỗ tiến sĩ năm 21 tuổi) cũng đã quen biết nhau khá lâu. Hai người cũng có cảm mến tài hoa của nhau, đặc biệt là cô Đoàn Thị Điểm cũng thấy trong lòng rất thương mến Nguyễn Kiều. Nhưng oái oăm thay, tiến sĩ Nguyễn Kiều lại “hướng con tim tình yêu” của mình về người con gái khác.

Ông tiến sĩ người làng Phú Xã, huyện Hoài Đức (nay thuộc Hà Nội), sống rất thanh cao, giản dị. Chính vì văn võ toàn tài mà ông được nhiều đại thần yêu quý, gả con gái cho. Ông lấy người vợ đầu là cô Lê Thị Hằng, con gái của Thượng thư Lê Anh Tuấn và cũng là chị em nuôi với Đoàn Thị Điểm. Không may cô Hằng mất sớm và hai người chưa có con với nhau. Tiến sĩ Nguyễn Kiều lấy người vợ thứ hai là cô Nguyễn Thị Đoan, cô Đoan là con gái quan Tham tục (Thượng thư) Nguyễn Quý Đức. Hai người có với nhau 2 người con trai và 1 người con gái.

Chẳng may cô Đoan lại mất khi vừa tròn 30 tuổi. Tiến sĩ Nguyễn Kiều vẫn nuôi ý tục huyền. Theo sách “Đoàn thị thực lục” thì một hôm cô Điểm đang giảng bài cho học trò thì từ ngoài có người vén rèm bước vào, theo sau có mấy người đầy tớ mang quả sơn son thếp vàng, trong quả có một phong thơ dán kín. Bức thơ này là của quan thị lang tiến sĩ Nguyễn Kiều. Nhận phong thơ xong cô Điểm đã thốt lên: “Lúc ta còn trẻ mong được người này cầu hôn. Trải qua 20 năm ta không bao giờ nghĩ đến nữa”.

Cô Điểm không trả lời ngay, sau 10 ngày thì tiến sĩ Nguyễn Kiều lại sai người mang tiếp một phong thơ nữa. Trong phong thơ này có lời lẽ hết sức khẩn thiết chân thành: “Tôi nghĩ rằng cô cùng nội trợ tôi vốn trước có tình nghĩa chị em, nếu cô vui lòng đùm bọc nội trợ tôi thì thật là may mắn cho cả nhà tôi”. Được biết tiến sĩ Nguyễn Kiều hơn cô Điểm đúng 10 tuổi.

Ông Đoàn Doãn Nam cho biết thêm: “Đọc những dòng chân thành của tiến sĩ Nguyễn Kiều trong lòng cô Điểm cũng thấy cảm động nhưng chưa muốn đem mình vào cuộc hôn nhân muộn màng nhưng người mẹ già của cô và cả gia đình đều muốn nên cô Đoàn Thị Điểm đã chấp nhận kết hôn làm người vợ kế thứ ba của tiến sĩ Nguyễn Kiều.

Vậy mà cuộc hôn nhân chưa đầy một tháng thì tiến sĩ Nguyễn Kiều được lệnh vua đi làm Chàng sứ sang triều cống nhà Thanh. Đường đi sứ xa xôi cách trở kéo dài những 3 năm đã khiến lòng người vợ mới khôn nguôi nhung nhớ, nhất là vào những ngày Tết đến xuân về, Đoàn Thị Điểm đã bộc bạch: “Tứ thơ niềm khách bên đèn mộng/ Tiếng pháo hò xe rộn ngõ ngoài”.

Cuối cùng thì ngày hội ngộ cũng đã đến. Tiến sĩ Nguyễn Kiều đi sứ trở về. Bà Đoàn Thị Điểm đem bản dịch “Chinh phụ ngâm” ra cho chồng xem, tiến sĩ Nguyễn Kiều đọc xong thấy cảm kích và kính phục tài năng của vợ.

Lại oái oăm thay Tiến sĩ Nguyễn Kiều được bổ làm quan Tham thị ở Nghệ An. Lần này ông muốn vợ đi cùng, sau hồi suy nghĩ cân nhắc thì Đoàn Thị Điểm nhận lời đi cùng chồng vào xứ Nghệ. Lúc thuyền đến bến Đền Sòng thờ Công chúa Liễu Hạnh thì bà bị cảm rất nặng. Biết mình không qua khỏi nên bà cố dặn chồng: “Chàng cố gắng lo tròn việc nước”.

Trối xong thì Đoàn Thị Điểm qua đời, lúc đó là ngày 11 tháng 9 năm Đinh Mão (1748 - có tài liệu nói bà mất ngày mùng 6 tháng 6 cùng năm 1749), hưởng dương 44 tuổi, bà chưa có con với tiến sĩ Nguyễn Kiều. Ông Đoàn Doãn Lực ngậm ngùi: “Tiến sĩ Nguyễn Kiều quàn quan tài của vợ ở xứ Nghệ một tháng thì đưa linh cữu về quê nhà của bà để an táng. Đứng trước mộ vợ, tiến sĩ Nguyễn Kiều đã than: “Ô hô. Hỡi nàng. Huệ tốt lan thơm/ Phong tư lộng lẫy, cử chỉ đoan trang/ Nữ đức trọn vẹn, tài học ngỡ ngàng”. Và ông đã khóc: “Đào chưa tươi đã khô/ Quế đang thơm đã rũ/ Rừng sâu bể rộng nàng hỡi đi đâu/ Ngọc nát châu chìm lòng tôi quặn nhớ”.

Cả hai ông Nam và Lực đều bùi ngùi: “Cuộc đời của cụ Đoàn Thị Điểm đúng như câu thơ mở đầu "Chinh phụ ngâm": “Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên”.

Nguyễn Trọng Văn

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.