"Kê minh thập sách" - mạch nguồn, tiếp biến, ảnh hưởng

Chung quanh “Kê minh thập sách” về tác giả, bối cảnh ra đời còn rất nhiều điều cần được làm sáng tỏ nhưng ý nghĩa lớn lao đặc sắc về tư tưởng trị nước và giữ nước phải đặt trên nền tảng thương dân, vì dân, thì hầu như đều được khẳng định.

Đến nay các vấn đề văn bản, tác giả được tham khảo chủ yếu từ sách “Truyền kỳ tân phả” của Ðoàn Thị Ðiểm (1705 - 1748). Kể rằng thời vua Trần Duệ Tông (1372 - 1377) có người con gái đẹp, giỏi thơ văn tự là Bích Châu, được kén vào cung. Hôm ấy, tiết trung thu, vua ra vế đối: “Thu thiên họa các quải ngân đăng, nguyệt trung đan quế” (Trời thu, gác tía treo đèn bạc, quế đỏ trong trăng). Bích Châu đối: “Xuân sắc đài trang khai bảo kính, thủy để phù dung” (Sắc xuân đài trang mở gương báu, phù dung đáy nước). Vua khen hay, từ đó rất yêu quý nàng.

Bia đá khắc "Kê minh thập sách".
Bia đá khắc "Kê minh thập sách".

Trước cảnh đời sống nhân dân khổ cực, triều chính rối ren, Bích Châu bèn dâng lên vua một bức sớ mười điều, gọi là “Kê minh thập sách”. Xin phép trích phần dịch nghĩa: “Một, giữ gốc của nước, trừ hà bạo thì lòng người yên vui. Hai, giữ nếp cũ, bỏ phiền nhiễu thì kỷ cương không rối. Ba, nén chặt kẻ quyền thần, ngăn ngừa chính sự mục nát. Bốn, thải bớt những kẻ nhũng lạm, trừ tệ khoét đục của dân.

Năm, cổ động nho phong, cho lửa bó đuốc và ánh mặt trời cùng soi sáng. Sáu, mở đường cho người nói thẳng, để cho cửa thành cùng với đường can gián mở toang. Bảy, kén quân nên chú trọng vào dũng lực hơn là cao lớn. Tám, chọn tướng cầu người thao lược, không căn cứ vào gia thế. Chín, khí giới quý hồ bền chắc, không chuộng hình thức. Mười, trận pháp cốt chỉnh tề, cần chi điệu múa”.

Dễ thấy nổi lên bốn nội dung cơ bản như bốn cột chống vững vàng của ngôi nhà xã tắc: coi dân là “gốc” của nước; trừ “hà bạo”, tham nhũng; trọng văn hóa; cần thẳng thắn thực chất trong chọn hiền tài và việc quân binh.

Xem xong, vua khen hay nhưng không làm theo. Năm 1377, vua đem quân đánh Chiêm Thành. Bích Châu hết sức can ngăn. Vua quyết cất binh, Bích Châu xin theo hộ giá. Đến cửa biển Kỳ Hoa (Kỳ Anh - Hà Tĩnh) thì gặp mưa gió dữ dội. Vua lệnh tạm đóng quân.

Đêm ấy, vua mơ một vị thần tự xưng “Đô đốc vùng biển Nam Hải”, thiếu người nội trợ, xin vua một cung tần. Tỉnh dậy, vua cho vời các phi tần kể lại chuyện. Bích Châu tự nguyện hy sinh. Nàng tâu: “Sau khi thiếp chết, xin bệ hạ sửa văn nghỉ võ, kén dùng người hiền, làm điều nhân nghĩa, dựng mưu chước lâu dài cho quốc gia”. Nói xong liền nhảy xuống biển. Bỗng chốc gió tan, mưa tạnh.

Một thế kỷ sau, năm 1470, trên đường đánh quân Chiêm Thành, vua Lê Thánh Tông qua biển Kỳ Hoa, được Bích Châu báo mộng. Thánh Tông ngậm ngùi than rằng: “Quốc gia hưng vượng tất có điềm lành, quốc gia suy đồi, tất có điềm dữ. Ðiềm lành hay điềm dữ, thật có liên quan đến đức của ông vua tốt hay xấu” và phong nàng chức “Chế Thắng phu nhân” với nghĩa người chế định ra mưu lược chiến thắng.

Ðền thờ Bích Châu được lập từ thời đó, nổi tiếng linh thiêng. Hằng năm, ngày 12 tháng hai âm lịch, là ngày giỗ của nàng dân làng mở hội lớn. Lại có tài liệu chép, bà Bích Châu mất sáng ngày này năm đó, ở cửa biển Thị Nại…

Có bà Bích Châu thật, hay chỉ là nhân vật huyền thoại được dân gian sáng tạo để ngầm ý nhắc nhở các bậc quân vương phải lấy “dân” làm cái căn bản của kế sách trị nước, giữ nước? Còn ngầm ý khác: là nữ nhi mà có trách nhiệm cao với đất nước như vậy, huống hồ các bậc “thất phu”! Chắc chắn ý nghĩa của “Kê minh thập sách” sẽ sống mãi với thời gian. Điều 5 “cổ động nho phong, cho lửa bó đuốc và ánh mặt trời cùng soi sáng” sau này được Bác Hồ kế thừa, phát triển thành: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”.

Nằm trong dòng chảy Nho giáo, “kê minh” (tiếng gà gáy sáng) có miền thượng nguồn từ trước tác Khổng Tử. Ông là tác giả (?) của hai bài “kê minh” được truyền tụng. Bài “Kê minh” là lời nhắc của người hiền phi khuyên vua dậy sớm: “Gà đã gáy rồi/ Triều thần đã đầy đủ rồi”. Vua phải dậy thôi, để “thiết triều”. Bài “Nữ viết kê minh” là lời người vợ giục chồng dậy sớm làm việc: sao mai đã mọc rồi, chàng phải dậy thôi… Cả hai bài, nhân vật người nữ đều mượn tiếng gà để giục vua/chồng dậy sớm. Không còn là tiếng gà đơn thuần, mà là lời giục giã…

Gà gáy sáng (tranh Đông Hồ).
Gà gáy sáng (tranh Đông Hồ).

Trong tín ngưỡng Việt, ý nghĩa tiếng gà mở rộng hơn. Cổ tích “Cường Bạo đại vương” kể, Ngọc Hoàng lệnh Thủy Tề dâng nước thật cao để trả thù Cường Bạo dám đánh người nhà Trời. Cường Bạo bèn ngồi trên một bè chuối, mang theo cái trống, cái chiêng và một con gà trống. Nước dâng, Cường Bạo ung dung phất cờ gióng trống khua chiêng, giục gà gáy lên từng hồi dõng dạc. Thấy nguy, Ngọc Hoàng phải ra lệnh rút nước.

Xuất phát từ quan niệm gà trống mang dương khí, khi gáy gọi mặt trời mọc, âm khí sẽ tiêu tan, ở Trung Quốc cổ xưa, vùng gần biển, người ta tạc những con gà đá trong tư thế đang gáy đặt trên đê. Vì thủy quái thuộc âm nên sợ gà trống. Trong văn hóa Việt, đậm hơn ở tín ngưỡng thờ Mẫu, thường có hình tượng con gà trống đứng uy nghiêm trước điện thờ để ngăn ngừa âm binh.

Lại có nhiều truyện kể, vì tội đánh nhầm người tốt nên Trời bắt Thiên Lôi chịu phạt bằng cách nằm im ở một góc rừng, để thỉnh thoảng gà trống đến mổ một cái thật đau. Khi thoát tội, Thiên Lôi còn giật mình sợ hãi khi nghe thấy tiếng gà. Thế nên nuôi gà trống là cách để tránh sét. Những điều trên lý giải vì sao Cường Bạo lại dùng chiêng (tiếng kim khí - thuộc “dương”), trống và tiếng gà gáy trên bè chuối… Như vậy, trong văn hóa Việt, ngoài ý nghĩa thức tỉnh, “tiếng gà” còn là cảnh tỉnh, cảnh báo, cảnh giới…

Nhìn vào nội dung “Kê minh thập sách” cũng cho thấy sự đa nghĩa này. Đằng sau 10 kế sách còn hằn sâu một thâm ý nhắc nhở: không làm theo sẽ chịu hậu quả khôn lường. Vì như cổ nhân từng dạy: chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân!

Hình tượng âm thanh “tiếng gà” từ các “cổ mẫu” vọng về thời sau. Thời vua Lê Thái tổ, Nguyễn Thiên Túng (?-?) có bài “Phú gà gáy sáng” rất đáng chú ý. Trong bối cảnh nhiều văn nhân còn tư tưởng hoài tiếc nhà Trần không chịu hưởng ứng chiếu “Kêu gọi hiền tài” của Lê Lợi, bài phú mang ý nghĩa như một sự thức tỉnh những tâm trạng hoài nhớ quá khứ, cần mở lòng để đón “Cơ hội nghìn năm, gặp đời thịnh trị”.

Nguyễn Bỉnh Khiêm có bài “Quán kê thi” (Bài thơ về gà trống) ví tiếng gà gáy như là sự khuyến giáo đạo đức: “Ngũ đức hữu chí tình/ Tam hào phi ác thanh/ Tư tư khuyến vi thiện/ Thời hướng hiểu song minh” (Năm đức đều trọn vẹn/ Ba lần gáy hết lòng/ Khẩn khoản khuyên điều tốt/ Tiếng gọi đón mai hồng).

Bài thơ là một “liên văn bản” hội tụ nhiều luồng văn hóa. Phật giáo quan niệm “gà” mang phẩm chất tốt lành, hướng thiện nên thường dùng từ “kim kê” (gà vàng) để nói về tính thanh tịnh, trong sáng của chúng sinh. Trong nghệ thuật tạo hình, “mặt gà” là một nguyên tắc (không phổ biến) để hình dung khuôn mặt của Bồ tát. Theo Nho học, “đại kê” (gà trống) gần âm với “đại cát” (tốt lành nhất). “Đại cát” lại là một quẻ bói chỉ điều may mắn… Thế nên “gà trống” biểu trưng cho “ngũ đức” (5 đức tính) quân tử: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.

Tiếng gà khắc khoải, chua chát đến đau đớn trong thơ Hồ Xuân Hương, không phải để “báo sáng”, mà là tiếng “oán hận vang ra khắp mọi chòm”. “Oán hận” thân phận tôi đòi kiếp đàn bà “cơm nguội” hẩm hiu trong xã hội nam quyền ích kỷ.

“Kê minh” trong thời đất nước có nạn giặc Pháp xâm lăng, hầu như được hiểu là “thức tỉnh” đồng bào, nhất là thanh niên không u mê trong đêm đen nô lệ, mà phải biết đứng dậy cứu nước, cứu nòi.

Nhà yêu nước vĩ đại Phan Bội Châu có bài “Gà gáy sáng” như giục giã: “Vỗ cánh ba hồi khua (dân) chúng dậy/ Chẻ then muốn cửa rước xuân về/ Nhẽ nào cam được non sông ấy?/ Một gáy vừng đông bỗng lập lòe”. Trong “Bài ca chúc Tết thanh niên”, “tiếng gà” giục giã thức tỉnh còn mạnh mẽ hơn: “Dậy! Dậy! Dậy!Bên án một tiếng gà vừa gáy/ Chim trên cây liền ngỏ ý chào mừng”. Hình tượng tiếng gà ở “Nhật ký trong tù” của Bác Hồ cũng mang nghĩa biểu tượng: “Một tiếng, toàn dân bừng tỉnh mộng”. Đó là tiếng kêu gọi yêu nước, đoàn kết cứu nước.

Trong bối cảnh kêu gọi lòng yêu nước, “kê minh” chủ yếu được hiểu theo nghĩa “thức tỉnh”… Từ ý nghĩa này, tên bài sớ “Kê minh thập sách” của bà Bích Châu có thể hiểu là: Mười kế sách làm lúc gà gáy. Nhưng thiên về cách hiểu: Mười kế sách như những tiếng gà gáy sáng!? Ở thời nào cũng vậy, ai cũng cần có tiếng “kê minh” đánh thức khát vọng bản thân. Cũng đồng thời, để cảnh báo giới hạn của chính mình!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.