Ivan Turgenev – 200 năm nhìn lại

Ivan Turgenev là một trong những nhà văn Nga tài năng bậc nhất của thế kỷ XIX. Hệ thống nghệ thuật do ông tạo ra đã thay đổi thi pháp tiểu thuyết ở Nga cũng như nước ngoài. Đương thời, tác phẩm của ông vừa được khen ngợi vừa bị phê phán kịch liệt, nhưng Turgenev vẫn suốt đời tìm kiếm trong đó con đường dẫn nước Nga tới hạnh phúc và thịnh vượng.

Nhân dịp kỷ niệm 200 năm ngày sinh của nhà văn (9/11/1818 - 9/11/2018), chúng tôi xin trân trọng điểm lại một số nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của ông.

Nhà thơ tài năng, quý tộc, đẹp trai

Gia đình Turgenev xuất thân từ dòng họ quý tộc lâu đời ở tỉnh Tula. Bố ông, Sergey Turgenev, phục vụ trong trung đoàn kỵ binh và sống một cuộc đời hết sức xa xỉ. Để cải thiện tình hình tài chính, ông buộc phải cưới một phụ nữ địa chủ không còn trẻ, nhưng rất giàu là Varvara Lutovinova.

Cuộc hôn nhân trở nên bất hạnh với cả hai, họ sống với nhau không hòa hợp. Người con trai thứ hai, Ivan, nhà văn tương lai, ra đời hai năm sau khi cưới, năm 1818, ở tỉnh Oryol. Gia đình Turgenev có ba con trai: Nikolay, Ivan và Sergey.

Trước năm chín tuổi, Turgenev sống ở trang ấp Spasskoye-Lutovinovo thuộc tỉnh Oryol. Bà mẹ là người khó tính và mâu thuẫn:  ở bà tình thương và sự quan tâm, chăm sóc con cái được kết hợp với thái độ hà khắc. Varvara Turgeneva nhiều lần đánh các con. Tuy nhiên, bà đã mời các thầy giáo giỏi người Pháp và Đức về dạy cho các con, và chỉ nói chuyện với các con bằng tiếng Pháp. Mặc dù vậy, bà vẫn là người hâm mộ văn học Nga và đã đọc các tác phẩm của Nikolay Karamzin, Vasily Zhukovsky, Aleksandr Pushkin và Nikolay Gogol.

Năm 1827, gia đình Turgenev chuyển đến Moskva để các con có điều kiện học hành tử tế. Ba năm sau, ông Sergey Turgenev bỏ nhà ra đi.

Năm 15 tuổi, Ivan vào học Khoa Ngữ văn Trường Đại học Moskva. Một năm sau, ông Sergey Turgenev qua đời, bà Varvara cùng với các con chuyển đến Petersburg, tại đây Turgenev vào học Khoa Triết Đại học Petersburg. Lúc bấy giờ, ông thực sự say mê thơ ca và đã viết tác phẩm đầu tay của mình - kịch thơ "Steno".

Sau này, Turgenev nhận xét về nó như sau: "Một tác phẩm hoàn toàn ngớ ngẩn, trong đó thể hiện sự bắt chước hết sức vụng về vở "Manfred" của Byron". Trong những năm học đại học, Turgenev viết gần 100 bài thơ và một số trường ca. Một số bài thơ của ông đã được đăng trên tạp chí "Người đương thời".

Sau khi tốt nghiệp đại học, Turgenev lên đường sang châu Âu để học tiếp. Ông nghiên cứu các nhà văn cổ đại, văn học La Mã, Hy Lạp, đi khắp nước Pháp, Hà Lan, Ý. Cuộc sống châu Âu đã làm Turgenev hết sức kinh ngạc: Ông rút ra kết luận rằng nước Nga cần phải thoát khỏi sự thiếu văn hóa, lười biếng, vô học, để đi theo các nước phương Tây.

Trong những năm 1840, Turgenev trở về Tổ quốc, nhận bằng thạc sĩ Ngữ văn Hy Lạp và La tinh tại Đại học Petersburg, thậm chí ông đã viết luận án tiến sĩ, nhưng không bảo vệ. Nhu cầu sáng tác văn học đã lấn át sở thích hoạt động khoa học. Chính trong thời gian này, Turgenev đã gặp gỡ Nikolay Gogol, Sergey Aksakov, Aleksey Khomyakov, Fyodor Dostoyevsky, Afanasy Fet và nhiều nhà văn khác.

 "Hôm nay nhà thơ Turgenev từ Paris trở về. Một con người mới tuyệt vời làm sao! Nhà thơ tài năng, quý tộc, đẹp trai, giàu có, thông minh, uyên bác, 25 tuổi - em không biết còn điều gì Trời không phú cho anh ấy?" - Fyodor Dostoyevsky viết cho anh trai của mình như vậy.

Khi về thăm trang ấp Spasskoye - Lutovinovo, Turgenev đem lòng yêu cô gái nông nô Avdotya Ivanova. Mối tình này kết thúc bằng việc nàng sinh hạ cho ông một cô con gái tên là Pelageya. Turgenev muốn cưới Avdotya, nhưng không thành. Sau này ông đưa con gái sang Pháp.

Năm 1843, với bút danh viết tắt T.L (Turgenez-Lutovinov),  Turgenev công bố trường ca "Parasha". Nó được nhà phê bình Vissarion Belinsky đánh giá cao, từ thời điểm đó họ đã trở thành bạn bè thân thiết, thậm chí Turgenev đã làm cha đỡ đầu của con trai nhà phê bình.

"Turgenev cực kỳ thông minh...Thật sung sướng được gặp con người mà ý kiến độc đáo và đặc biệt của anh ta, khi va chạm với ý kiến của anh, phát ra những tia lửa" - Vissarion Belinsky viết.

Cũng vào năm đó, Turgenev gặp nữ danh ca Pháp - Tây Ban Nha  Pauline Viardot. Cho đến nay, các nhà nghiên cứu tác phẩm của Turgenev vẫn tranh luận về mối quan hệ của họ. Họ gặp nhau ở Saint-Petersburg khi nữ danh ca sang Thủ đô Nga biểu diễn. Turgenev thường  đi du lịch với Pauline và chồng bà, nhà nghiên cứu nghệ thuật Louis Viardot, ở châu Âu. Con gái ngoài giá thú Pelageya  của nhà văn được nuôi dưỡng trong gia đình của Viardot.

Nhà văn và nhà viết kịch

Vào cuối những năm 1840, Turgenev viết nhiều cho sân khấu. Các vở kịch của ông "Kẻ ăn bám", "Người độc thân", "Một tháng ở làng quê" và "Cô gái tỉnh lẻ" trở nên rất nổi tiếng với công chúng và được giới phê bình nhiệt liệt đón nhận.

"Cái bóng của Shakespeare đang đè nặng lên tất cả các nhà viết kịch, họ không thể chạy thoát những hồi ức; những kẻ bất hạnh này đọc quá nhiều và sống quá ít" - Ivan Turgenev viết.

Năm 1847, tạp chí Người đương thời đăng truyện ngắn của Turgenev "Khor và Kalinych", truyện lấy cảm hứng từ những cuộc đi săn của tác giả. Muộn hơn, cũng trên Người đương thời xuất hiện các truyện ngắn trích từ tập "Bút ký người đi săn". Tập truyện này xuất bản năm 1852. Turgenev gọi nó là lời hứa quyết tâm đấu tranh đến cùng với kẻ thù mà ông căm ghét từ nhỏ: chế độ nông nô.

"Bút ký người đi săn" ghi nhận một tài năng lớn đến mức nó có ảnh hưởng tốt đẹp đối với tôi; sự hiểu biết thiên nhiên thường được nhà văn thể hiện như một mặc khải"  - nhà thơ Fyodor Tyutchev viết.

Đây là một trong những tác phẩm đầu tiên công khai nói về tai họa và tác hại của chế độ nông nô. Nhân viên kiểm duyệt cho phép in "Bút ký người đi săn" bị Nga hoàng Nikolay đệ nhất sa thải và truất lương hưu, còn cuốn sách bị cấm tái bản. Kiểm duyệt giải thích rằng Turgenev tuy đã thi vị hóa những người nông nô, nhưng lại phóng đại một cách tội lỗi những nỗi đau khổ của họ dưới  ách thống trị của bọn địa chủ.

Năm 1856, tiểu thuyết đầu tay "Rudin" được Turgenev sáng tác chỉ trong 7 tuần đã ra đời. Tên của nhân vật cuốn tiểu thuyết trở thành danh từ chung ám chỉ những người mà lời nói không đi đôi với việc làm. Ba năm sau, Turgenev công bố tiểu thuyết "Tổ quý tộc" , tác phẩm trở nên hết sức nổi tiếng ở nước Nga đến mức tất cả những người có học thức đều coi mình có nghĩa vụ phải đọc nó.

"Sự hiểu biết đời sống Nga, hơn nữa không phải hiểu biết sách vở, mà là qua trải nghiệm thực tế, được thanh lọc và suy ngẫm bằng sức mạnh của tài năng và suy tưởng, thể hiện trong tất cả các tác phẩm của Turgenev..." - nhà phê bình văn học Dmitry Pisarev viết.

Từ năm1860 - 1861, tờ Người đưa tin Nga đã trích đăng tiểu thuyết "Cha và con". Cuốn tiểu thuyết viết về vấn đề thời sự và tư tưởng xã hội thời bấy giờ, chủ yếu là quan điểm hư vô chủ nghĩa của giới thanh niên. Nhà triết học và nhà chính luận Nga Nikolay Strakhov nhận xét: "Trong "Cha và con", tác giả chứng minh một cách cụ thể hơn so với các tác phẩm khác rằng thơ ca đích thực... có thể phụng sự xã hội một cách tích cực...".

Tiểu thuyết "Cha và con" được các nhà phê bình nhiệt liệt đón nhận, nhưng không được những người theo chủ nghĩa tự do ủng hộ, ví dụ, nhà cách mạng dân chủ Aleksandr Gertsen, chủ bút báo Tiếng chuông nổi tiếng mà Turgenev thường cộng tác. Gertsen nhìn thấy tương lai nước Nga ở chủ nghĩa xã hội nông dân, đồng thời cho rằng châu Âu tư sản đã lỗi thời, còn Turgenev ủng hộ việc tăng cường các mối quan hệ văn hóa của nước Nga với phương Tây.

Sau khi xuất bản tiểu thuyết "Khói", Turgenev bị phê phán gay gắt. Đó là tác phẩm đả kích, chế giễu một cách sâu cay cả giới quý tộc bảo thủ Nga lẫn những kẻ theo chủ nghĩa tự do mang tư tưởng cách mạng. Theo tác giả, ông bị tất cả mọi người mắng nhiếc: "cả đỏ lẫn trắng, cả trên lẫn dưới, cả bên cạnh - đặc biệt là bên cạnh".

Từ "Khói" đến "Thơ văn xuôi"

Sau năm 1871, Turgenev sống ở Paris, thỉnh thoảng trở về nước Nga. Ông tham gia tích cực vào đời sống văn hóa Tây Âu, tuyên truyền văn học Nga ở nước ngoài. Turgenev tiếp xúc và trao đổi thư từ với Charles Dickens, George Sand, Victor Hugo, Prosper Mérimée, Guy de Maupassant, Gustave Flaubert.            

Vào nửa sau những năm 1870, Turgenev công bố cuốn tiểu thuyết đồ sộ nhất "Mới", trong đó ông mô tả các thành viên phong trào cách mạng những năm 1870 trên tinh thần châm biếm và phê phán kịch liệt.

"Cả hai cuốn tiểu thuyết ("Khói" và "Mới") chỉ thể hiện sự lạnh nhạt ngày càng tăng của ông đối với nước Nga, cuốn thứ nhất bằng nỗi cay đắng bất lực của mình, cuốn thứ hai - bằng sự thiếu vắng thông tin và cảm giác hiện thực trong việc mô tả phong trào lớn mạnh của những năm 70" - nhà phê bình Dmitry Svyatopolk-Mirsky viết.

Cũng như "Khói", cuốn tiểu thuyết này không được các đồng nghiệp của Turgenev đón nhận. Ví dụ, nhà văn Mikhail Saltykov-Schedrin viết rằng "Mới" ủng hộ chế độ chuyên chế. Mặc dù vậy, danh tiếng của các truyện vừa đầu tay và tiểu thuyết của Turgenev không giảm bớt.

Những năm cuối đời, nhà văn gặt hái được nhiều thành tựu rực rỡ ở nước Nga cũng như nước ngoài. Xuất hiện chùm tiểu phẩm trữ tình "Những bài thơ văn xuôi". Mở đầu cuốn sách là bài thơ văn xuôi "Làng quê", và kết thúc là bài "Tiếng Nga" - một khúc ca nổi tiếng về niềm tin vào thiên chức vĩ đại của Tổ quốc mình: "Trong những ngày lòng đầy hoài nghi, trong những ngày trĩu nặng nghĩ suy về số phận của Tổ quốc, chỉ có người là sự hỗ trợ và điểm tựa của ta, ôi, tiếng Nga vĩ đại, hùng mạnh, chân thật và tự do!...Nhưng không thể tin rằng một ngôn ngữ như vậy không dành cho một dân tộc vĩ đại!". Tập sách này là lời từ biệt của Turgenev với cuộc đời và nghệ thuật.

Những năm cuối đời, Turgenev bị ốm nặng. Ông mất ngày 3 tháng  9 năm 1883 ở Bougival, ngoại ô Paris, và được an táng tại nghĩa trang Volkov ở Petersburg. Sự ra đi của nhà văn là một mất mát lớn đối với những người hâm mộ tác phẩm của ông.

Trần Hậu

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.