Huyền thoại Đồng Tháp Mười

Bước vào trận đánh lớn với thiên nhiên khắc nghiệt, với "giặc phèn" mà trong tay lại không có vốn, không có khoa học, kỹ thuật... Đó chính là thực tế những ngày khởi đầu đầy gian truân trong cuộc "chinh phục" biến vùng đất phèn Đồng Tháp Mười thành vựa lúa lớn của cả nước hôm nay.

"Dĩ binh ư nông"

 "Để đưa được bộ đội vào Đồng Tháp Mười, tôi phải thuyết phục lãnh đạo tỉnh và tranh thủ thêm nhiều "sếp" ở Bộ Quốc phòng… Nói chung là cũng bày binh, bố trận như đánh giặc". Đã bước sang tuổi 90, nhưng ngoài chứng "nặng" tai, Thiếu tướng Lê Quang Viễn (88 tuổi), nguyên Chỉ huy trưởng Tỉnh đội Đồng Tháp, người khởi xướng cuộc đưa quân chinh phục Đồng Tháp Mười vẫn khỏe, đặc biệt là còn mẫn tuệ.

Trong ngôi nhà bình dị và khá tĩnh lặng giữa lòng TP Cao Lãnh đầy náo nhiệt, ông Viễn bồi hồi nhớ lại: "Lãnh đạo Tỉnh ủy ủng hộ, còn lãnh đạo Ủy ban bảo: "chậm lại". "Không phải làm "khó dễ" chi, chẳng qua mấy anh sợ đụng vô ổ "phèn" lợi bất cập hại". Lý lẽ thuyết phục thì ông Viễn có thừa, nhưng trước sau vẫn chỉ có thể nói mỗi chuyện đưa quân đánh "giặc phèn", sản xuất lương thực, còn các chuyện chuẩn bị đánh giặc…Pôn-pốt thì không thể nói ra vì  không được để lộ "bí mật quân sự".

GS.TS Võ Tòng Xuân (trái) cùng Đại úy Phạm Ngọc Trọng những ngày đầu khai hoang Đồng Tháp Mười.
GS.TS Võ Tòng Xuân (trái) cùng Đại úy Phạm Ngọc Trọng những ngày đầu khai hoang Đồng Tháp Mười.

Ông Viễn chia sẻ rằng ông sớm được tiếp cận với dự báo "mật" về khả năng xảy ra chiến tranh biên giới Tây Nam. Trong khi đó phòng tuyến ven biển trên khu vực Đồng Tháp Mười đang rất mỏng. Nếu đưa quân vào sẽ đạt được 3 mục tiêu: vừa lo lương thực vừa xây dựng lực lượng tại chỗ, lại vừa "giữ chân" được anh em quân đội.

Từng "ra Bắc, vào Nam" trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, ông Viễn hiểu tầm quan trọng của "mái nhà quân đội" đối với người lính vào sanh, ra tử. Vì vậy, sau ngày thống nhất đất nước, Trung ương có chủ trương "giản chính", ông mất ăn, mất ngủ để tìm kế giữ anh em. Chính cái tình đồng đội, cái nghĩa đồng bào sâu đậm đã hun đúc trong ông sự tự tin để tìm ra lý lẽ thuyết phục lãnh đạo tỉnh Đồng Tháp tin tưởng và chấp nhận…

Thế là tháng 6-1976, lần lượt 5 nông trường quân đội ra đời giữa Đồng Tháp Mười hoang vu. Âm thầm và lặng lẽ đánh giặc phèn, chế ngự thiên nhiên khắc nghiệt, đặt nền vững chắc để 3 năm sau (1979) Đồng Tháp chính thức mở tổng chiến dịch "chinh phục" Đồng Tháp Mười, sau đó lần lượt Long An, Tiền Giang cũng vào cuộc. Đây là nét khác biệt cơ bản so với cuộc chinh phục thiên nhiên đưa vùng đất phèn Tứ giác Long Xuyên  trở thành vựa lúa lớn thứ 2 của cả nước do tỉnh An Giang khởi xướng vào năm 1988, chủ yếu dựa vào "ý Đảng, sức dân". Tuy nhiên, trước mắt những đội quân này đã tạo ra thế trận giúp Đồng Tháp tránh được thảm họa diệt chủng của bè lũ khát máu Pôn-pốt trong cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam so với một số tỉnh lân cận chấp hành lệnh "giản chính".

Tay trắng viết kỳ tích

"Không vốn, không kỹ thuật và không có dân cư sinh sống gần… Nhưng khó nhất là không có kết nối đường bộ lẫn đường thủy với Đồng Tháp Mười…", ông Viễn nhớ lại.

Lúc đó, trời vừa nhạt nắng là tất cả phải chui vào mùng, sáng hôm sau, mùng nào cũng lúc nhúc đàn muỗi bụng căng tròn máu. Nan giải nhất là nạn chuột. Không thể sử dụng cách đánh "bã" được vì chỉ tốp đầu đi qua là đã vét hết cả giạ lúa "mồi" nên các tốp sau vô tư cắn phá… Thậm chí, có lần tắc ráng của đơn vị bị nằm đường vì lọt vào vòng di chuyển của đàn chuột trên kênh, máy bị gãy "chân vịt". Vì vậy, để sản xuất lúa buộc phải lên bờ bao bảo vệ làm bằng thủ công.

Mỗi chiến sĩ đào đắp 3 khối đất/ngày. Nhiều lúc cả tháng anh em mới được tắm nước ngọt một lần. Vào mùa khô, cả cánh đồng chỉ có mỗi nước phèn chua đến tê lưỡi và cay xé mắt. Phải băng qua hàng chục cây số đồng mông quạnh để ra tận Hồng Ngự lấy nước ngọt… Mỗi tuần chỉ có 1 chuyến, chủ yếu để ăn, uống… Đã có không ít lính mới bỏ về vì không kham nổi gian khổ, nhưng phần lớn cựu binh vẫn giữ nguyên phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, bám trụ với cuộc chiến đánh giặc phèn.

Sau 8 năm khai hoang, hình thành nên Nông trường Động Cát (huyện Tháp Mười) trù phú, năm 1984, đơn vị nhận được lệnh: tiếp tục tiến quân vào "rốn phèn" của Đồng Tháp Mười (nay là huyện Tân Hồng, Tam Nông) khai hoang, trồng lúa cao sản. Và chỉ 3 năm sau, những người lính Cụ Hồ đã bước qua lời nguyền về "vùng đất bất khả xâm phạm", gặt hái mùa phồn thịnh…

Mùa vàng trên đồng hoang năm xưa.
Mùa vàng trên đồng hoang năm xưa.

"Lúc đầu, chúng tôi chọn 10ha tại khu vực gò cao, nay thuộc địa phận ấp K12 (xã Phú Hiệp, Tam Nông - Đồng Tháp) trồng lúa 2 vụ. Bà con trong vùng dò xét dữ lắm vì không ai nghĩ bộ đội sẽ làm được. Nhưng khi thu hoạch, năng suất 5 tấn/ha, nhiều lão nông tri điền mang "rượu đế" đến thưởng". Phát huy thành quả, nông trường mở rộng diện tích trồng lúa cao sản lên 100ha rồi 1.000ha.

Trồng được lúa, chủ động được cái ăn, những người lính nghĩ tới lập làng để tạo thế ổn định lâu dài. Thế là hàng loạt chính sách "chiêu dân" ra đời. Không chỉ "chia" giống, hay chuyển giao công nghệ từ phương pháp xạ khô cho đến kỹ thuật "ém" phèn… nông trường còn kèm thêm "khuyến mãi": tặng con giống heo, bò cho hộ tự nguyện gắn bó lâu dài để bà con lấy ngắn nuôi dài. Liền theo đó là lập chợ, tổ chức hệ thống cung cấp nước sinh hoạt, trường học, trạm xá…

 Năm 1986, phát hiện những dãy đất "cao vượt lũ" liên tiếp mọc lên sau khi đơn vị thi công tuyến kênh Hồng Ngự - Vĩnh Hưng, ông Viễn bật ra ý tưởng mới: Đắp đê - vừa có chỗ tránh lũ vừa tạo phòng tuyến biên giới. Không có tiền để thuê mướn sòng phẳng, ông Viễn tìm đến chỉ huy thi công công trình thương lượng. Cũng xuất thân từ người lính nên vị chỉ huy đội xáng ủng hộ ngay, nhưng chỉ ngại mỗi một điều: không đủ cơm, gạo cho anh em làm thêm ngày thêm giờ. "Tôi hỗ trợ mấy bao gạo và 3 con bò. Nhờ đó mà nông trường có được tuyến đê dài 8km nằm dọc theo kênh với cao trình cao hơn đỉnh lũ 1978 đến 5 tấc". Từ "con đê vượt lũ" này đã gợi mở cho Trung ương hình thành chủ trương và nhân rộng mô hình cụm - tuyến dân cư vượt lũ ra cả nước. 

Xứng danh anh hùng

Năm 1981, 2 giáo sư địa chất của Liên Xô đến đây thực địa, sau khi mang mẫu về nước phân tích đã kết luận: "Đất này không thể trồng lúa được". Điều này cho thấy việc đưa cây lúa cao sản đứng chân giữa "rốn phèn" của cán bộ, chiến sĩ Nông trường Giồng Găng không phải là sự "ăn may". Đó là kết quả của quá trình học hỏi, lắng nghe và sáng tạo, nhưng trên hết là sự táo bạo trong tư duy, trong hành động. Táo bạo nhất và đình đám nhất là việc lãnh đạo nông trường đi vay nợ. Ngoài "Cánh đồng hoang", tài sản của nông trường chẳng có gì thế chấp.

Đại tá Trọng nhớ lại: "Ứng trước xăng dầu, sau đó quy đổi ra lúa để đến mùa trả nợ". Chính bài bản sòng phẳng này đã đưa các công ty quốc doanh bên ngoài chấp nhận cho nông trường vay vốn. Lo vốn xong lại vướng đến kỹ thuật. Nông trường chủ trương: ưu tiên tuyển người có trình độ nông nghiệp để tạo nguồn tại chỗ, đồng thời chủ động đề xuất và được tỉnh chấp thuận mở Hội nghị chuyên đề về khai hoang Đồng Tháp Mười tại Sa Đéc vào năm 1977. Chính sự táo bạo ấy đã giúp đơn vị tiếp thu được nhiều ý kiến quý, thiết thực, và tạo ra sự "kết nối hai chiều" với nhiều nhà khoa học giỏi đương thời.

GS.TS Võ Tòng Xuân, một trong những nhà khoa học đầu tiên gắn bó với Nông trường nhớ lại: "Bất kể sáng, trưa, chiều tối, mỗi khi đoàn nghiên cứu vào công tác, anh em trong Nông trường đối đãi như người trong nhà. Thậm chí có hôm đến đột xuất vào giờ ăn, Nông trường nhường cả cơm đang nấu cho đoàn ăn trước để có thời giờ nghiên cứu. Vì vậy mỗi khi các anh cần gì, hoặc có công trình, kỹ thuật mới là chúng tôi chủ động giúp và chuyển giao ngay".

Khi "cánh đồng hoang" mọc lên 9 xã, 1 thị trấn thì những người lính Cụ Hồ rút ra phía sau ánh hào quang. Thượng tá Lê Văn Diễn, Chính ủy Đoàn KTQP 959 cho biết, đơn vị đã bàn giao toàn bộ 3.000 ha đất cho địa phương quản lý để chuyển sang đầu tư nâng cánh đồng lên tầm cao mới, như: tranh thủ nguồn vốn "đối ứng" từ Bộ Quốc phòng xây dựng hệ thống giao thông, thủy lợi liên vùng, đầu tư các cụm dân cư biên giới, tạo phên giậu nơi tiền đồn Tổ quốc, phát triển nông nghiệp theo hướng công nghệ cao, sản xuất liên kết…

Lục Tùng

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.