"Hướng về Hà Nội" của cố nhạc sỹ Hoàng Dương

Hà Nội là mảnh đất có hàng trăm bài nổi tiếng được công chúng nhiều thế hệ ưa thích và truyền tụng. Nhưng có một bài, theo tôi là có dáng dấp, rõ chất Hà Nội nhất với vẻ hòa hoa, tao nhã, thanh lịch, sang trọng. Đó là bài "Hướng về Hà Nội" của cố nhạc sỹ Hoàng Dương (1933-2017).

Nói đến Hoàng Dương, người ta nghĩ ngay đến một nghệ sỹ chơi đàn violon cello nổi tiếng, là bậc thày của nhiều nghệ sỹ chơi đàn này ở nước ta. Ông có công xây dựng bộ môn đàn dây và là người đào tạo nên nhiều thế hệ biểu diễn violon cello ở Trường Âm nhạc Việt Nam (nay là Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam). Ông cũng là tác giả của nhiều tác phẩm khí nhạc viết cho đàn dây có chất lượng được biểu diễn nhiều và trở thành giáo trình giảng dạy trong các nhạc viện ở nước ta. Ông được phong hàm Phó Giáo sư và là Nhà giáo Nhân dân.

Trong lĩnh vực sáng tác ca khúc, Hoàng Dương chỉ viết một số ít bài: "Tiếc thu", "Tiếng mưa rơi", "Chiều cuối năm"… Nhưng có một bài rất hay, nổi tiếng, ai nghe cũng rung cảm, đó là "Hướng về Hà Nội". Giai điệu bài hát nhẹ nhàng, êm ả, uốn lượn bình ổn gợi cảm giác xao xuyến, bâng khuâng pha chút hoài cổ, nuối tiếc. Lời ca cũng rất gợi cảm, lãng mạn: "Hà Nội ơi! Hướng về thành phố xa xôi, ánh đèn giăng mắc muôn nơi. Áo màu tung gió chơi vơi. Hà Nội ơi! Phố phường rải ánh trăng mơ. Liễu mềm nhủ gió ngây thơ thấu chăng lòng khách bơ vơ…".

Cố nghệ sĩ Hoàng Dương.
Cố nghệ sĩ Hoàng Dương.

Đã lâu lắm, ngay từ những năm tháng tôi còn ở tuổi thiếu nhi đã được nghe những bài hát nổi tiếng viết về Hà Nội như "Người Hà Nội" (Nguyễn Đình Thi), "Tiến về Hà Nội" (Văn Cao), "Sẽ về thủ đô" (Huy Du). Đến những năm 60-70 của thế kỷ trước và sau đó lần lượt được biết thêm rất nhiều bài hát khác về cùng đề tài của các nhạc sỹ tên tuổi: Hoàng Vân, Hồ Bắc, Nguyễn Đức Toàn, Trịnh Công Sơn, Hoàng Hiệp… Mãi về sau tôi mới biết bài "Hướng về Hà Nội" của Hoàng Dương. Bài này ra đời sớm hơn những bài trên nhiều nhưng tôi lại biết sau. Thì ra có một thời gian dài "Hướng về Hà Nội" không được phổ biến do quan niệm hẹp hòi của cái thời gọi là "duy ý chí", văn nghệ chưa được "cởi trói".

Tôi đã nghe rất nhiều ca khúc về Hà Nội. Nhưng bài của Hoàng Dương đã gieo vào tôi một cảm giác thật đặc biệt, khác hẳn những bài khác cũng rất hay. Nếu những bài khác gây cho tôi ấn tượng sôi động, vui tươi thì "Hướng về Hà Nội" lại có một thoáng buồn, cái buồn man mác, vẩn vơ kiểu như của Xuân Diệu xưa: "Hôm nay trời nhẹ lên cao/ Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn". Buồn chứ không sầu, không bi lụy, hay nói một cách văn chương đây là cái buồn mang tính thẩm mỹ.

Bài hát thật đặc sắc của một nhạc sỹ ở ngay Hà Nội mình có quen mà lâu nay không hề hay biết. Về nước, tôi bèn tìm đến chơi với Hoàng Dương để hỏi ngọn ngành. 

Và tôi được ông cho biết: Khoảng đầu năm 1954, khi ấy ông 21 tuổi, hoạt động trong nội thành Hà Nội thì bị địch truy lùng nên phải lánh ra một làng tại ngoại thành. Đêm đêm, ông nhìn về thành phố mà thấy lòng nao nao, nhất là mỗi khi nghe tiếng súng nổ đì đùng, chứng kiến những quầng lửa sáng rực một góc trời, trong lòng có phần sốt ruột, mong mỏi ngày kháng chiến thắng lợi, Thủ đô được giải phóng để trở về. 

Nhưng vượt lên tất cả tâm trạng ấy là nỗi nhớ da diết một người con gái mà Hoàng Dương từng có những kỷ niệm êm đềm, thơ mộng từ thuở còn cắp sách tới trường. Ông nhớ lại ký ức không xa khi hai người quấn quít bên nhau và những ngày cuối tuần cùng nhau lên hồ Tây, hồ Trúc Bạch ngồi ghế đá, phóng tầm mắt ra xa nhìn những đàn sâm cầm bay lượn hoặc cùng thả hồn trên sóng nước. 

Ông đặc biệt nhớ những đêm trăng. Hà Nội ngày ấy chưa có đèn led sáng trưng như bây giờ mà phần nhiều vẫn là bóng đèn sợi tóc nên ánh sáng lờ mờ lại càng làm cho trăng sáng tỏ hơn. Ánh trăng lung linh chiếu qua những kẽ lá, lùm cây bên đường, nhất là những khóm liễu rủ ven hồ khiến khung cảnh lại càng trở nên kỳ ảo, huyền diệu. 

Giữa bức tranh thiên nhiên diễm lệ, kỳ thú đó, có lần cô gái nói với Hoàng Dương: "-Anh giỏi nhạc, hay sáng tác, hãy viết một bài hát về kỷ niệm của chúng mình để ghi nhớ những ngày tháng này". (Chả là lúc này Hoàng Dương đã bắt đầu sáng tác những bài hát đầu tiên và cô gái biết rõ điều này). Nhưng lúc còn ở trong nội thành, thường xuyên được gặp cô bạn thì chàng trai trẻ không viết được gì. Chỉ đến khi lánh ra ngoại thành, không gặp được nàng, thấy nhớ da diết, Hoàng Dương mới viết nên được ca khúc bất hủ. 

Ông kể rằng ca khúc ra đời rất nhanh, chỉ trong một buổi tối. Lúc đầu ông định đặt tên là "Nhớ người con gái Hà Nội" nhưng rồi thấy như vậy cụ thể quá. Mà ý ông muốn nói đến Hà Nội với nghĩa rộng hơn, tức là nhớ mảnh đất ngàn năm văn hiến, quê ông, nơi ông sinh ra và lớn lên.

Cố nghệ sĩ Hoàng Dương và phu nhân.
Cố nghệ sĩ Hoàng Dương và phu nhân.

Từ một nỗi nhớ da diết, mãnh liệt nhưng sâu lắng, ngọt ngào nên ông đã cho ra một ca khúc có giai điệu mềm mại, du dương, bịn rịn thương nhớ như ta đã thấy. Tâm trạng, xúc cảm như thế thì không thể cho ra một ca khúc hừng hực khí thế hoặc vui tươi, sôi nổi được. 

Nếu nghe kỹ giai điệu sẽ thấy bài hát mang rõ chất hào hoa, lịch lãm rất đúng với mảnh đất ngàn năm văn hiến và "phi chiến địa" của Thăng Long. Điều này đã phản bác ý kiến của ai đó cho rằng nếu thay hai tiếng "Hà Nội ơi!" bằng bất cứ địa danh nào khác - ví như "Hải Phòng ơi!" hoặc "Việt Trì ơi!" thì vẫn cứ được. Bởi vì cái chất rất Tràng An vừa nói trên sẽ không phù hợp với bất cứ nơi nào khác. (Điều này đã xảy ra trong một chương trình gọi là "Giai điệu tự hào"từng được phát sóng trên ti-vi).

Hoàng Dương có người bạn thân cũng là nhạc sỹ tên Hoàng Trọng ở thời điểm bài hát "Hướng về Hà Nội" ra đời đang sống ở nội thành Hà Nội. Hai người luôn chia sẻ với nhau mọi chuyện vui buồn trong cuộc sống và Hoàng Dương còn viết lời cho nhiều ca khúc của Hoàng Trọng. Tác giả "Hướng về Hà Nội" đã gửi tác phẩm vào cho bạn mình xem. Hoàng Trọng vô cùng thích thú, tìm cách phát huy tác dụng, đưa cho nhiều ca sỹ đang nổi tiếng ở Hà Nội khi ấy hát. Và bài hát lan truyền dần. 

Sau năm 1954, Hoàng Trọng cùng một số ca sỹ vào cư trú trong Sài Gòn đã mang theo bài này để chỉ một thời gian ngắn sau cũng lan truyền ở thành phố được coi là hòn ngọc của Viễn Đông khi đó. Sau năm 1975, một số ca sỹ ở Sài Gòn đã di tản sang Mỹ, đem theo bài hát để rồi cũng lan truyền tại hải ngoại. Cũng sau ngày đất nước ta được thống nhất, dần dần đã có sự giao lưu văn hóa, văn nghệ giữa hai miền Nam, Bắc. Giới ca sỹ đã đi biểu diễn ở khắp hai miền. Cũng từ đây mà bài hát có dịp lan ra Hà Nội. 

Nhưng cũng phải từ thập niên 90 của thế kỷ trước trở đi - nghĩa là ở thời kỳ đổi mới toàn diện của nước ta, ca khúc này mới thực sự được giới ca sỹ thoải mái biểu diễn. Như vậy là sau rất nhiều năm kể từ ngày ra đời, "Hướng về Hà Nội" mới đến được với rộng rãi công chúng Thủ đô. 

Hầu như ca sỹ nào cũng từng hát bài này nhưng tôi chưa thấy ai hát ra được đúng thần thái của tác phẩm. Ngay cả người có danh hiệu cao (NSND) cũng hát hoặc là hời hợt, hoặc là cũng "cộng minh" như hát ô-pê-ra. Người cố gắng hát cho mềm mại thì lại rơi vào sự ủy mị, sướt mướt rất sai với tinh thần của tác giả.

"Hoàng Dương có tên đầy đủ là Ngô Hoàng Dương, sinh năm 1933 tại Từ Liêm, Hà Nội và qua đời ngày mùng 3 Tết năm 2017, hưởng thọ 84 tuổi. Ông có cha là nhà văn hóa nổi tiếng Trúc Khê Ngô Văn Triện. Ông để lại một sự nghiệp đáng nể về sáng tác, biểu diễn và giảng dạy bộ môn đàn violon cell. Riêng về ca khúc, chỉ với "Hướng về Hà Nội" ông cũng sống mãi trong lòng người hâm mộ".
Nguyễn Đình San

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.