Hồn thơ phóng khoáng, phiêu bạt đẫm "chất sống" Hải Phòng

Trong đời thơ của mình, Thanh Tùng đi khá nhiều nơi, viết về nhiều miền đất khác nhau nhưng thành phố Hải Phòng của một 'Thời hoa đỏ"  vẫn là một miền thi ca giàu chất sống lãng mạn dữ dội và ký thác tâm tưởng nhiều nhất đối với ông...

Tôi nghĩ mỗi một nhà thơ đích thực, nổi tiếng đều tìm thấy miền đất ký thác của thơ mình trong cuộc đời sáng tạo của riêng họ, dẫu hành trình thơ mở ra ở nhiều miền sống khác nhau, nhiều thể tài khác nhau, nhiều giai đoạn khác nhau, nhiều thi tầng khác nhau.

Và, điều tôi muốn nói tới chính là chất thơ của những miền sống đã làm nên một đặc trưng phổ quát, một định hình ngôn thi, một định tính phong cách… của miền thi ca ấy. Như thể nhiều năm qua, dư luận văn học thường nhắc tới chất thơ Hà Nội, chất thơ Xứ Đoài, chất thơ Kinh Bắc rồi chất thơ Hải Phòng, chất thơ miền Trung Thanh - Nghệ - Tĩnh, chất thơ Bình Định - Phú Yên đến chất thơ xứ Huế, chất thơ Sài Gòn, chất thơ Nam Bộ…

Với tuyển thơ "Còn đây một thời hoa đỏ" của cố nhà thơ Thanh Tùng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành, qua 159 bài thơ trong tập, tôi cho rằng cái phong vận của người thơ tài hoa ấy có hai nét nổi bật đẫm chất thơ - chất sống Hải Phòng, đó là sự phóng khoáng trong nhịp điệu thi ca và sự phiêu bạt trong cảm xúc và suy ngẫm.

Trong đời thơ của mình, Thanh Tùng đi khá nhiều nơi, viết về nhiều miền đất khác nhau nhưng thành phố Hải Phòng của một 'Thời hoa đỏ"  vẫn là một miền thi ca giàu chất sống lãng mạn dữ dội và ký thác tâm tưởng nhiều nhất đối với ông. Trong bài thơ "Hải Phòng - muối của đời tôi", Thanh Tùng chia sẻ:

Tôi để lại Hải Phòng giầu có của tôi/ Bước ra cửa là rơi vào trái tim bè bạn/ Cùng ngọn gió tươi mặn chát của biển khơi/ Với tôi ngày nào cũng Tết/ Tôi đã mang thơ trải khắp con đường/ Thơ có máu của những ngày bom đạn/ Dồn lên cùng ngọn lửa lò nung/ Chắt ra từ giọt rượu đêm/ Quán vắng bạn bè khật khưỡng”…

Rồi: “Tôi đã làm thơ từ sau xe bò chở gạch/ Đến quảng trường nổi gió lúc nửa đêm/ Tiếng ghi-ta ngập ngừng ven bờ sông Lấp/ Rồi bay lên sóng sánh ánh sao trời / Hải Phòng ơi ai cũng đã an ủi tôi/ Bằng cách yêu của thợ/ Đến vỉa hè cũng nóng lên mời gọi/ Trong những ngày tưởng không đứng lên được nữa/ Hải Phòng ơi tôi đã tan vào Người/ Trong ngổn ngang mãnh liệt/ Để hôm nay dù ở nơi nào/ Cũng không nhạt nhẽo/ Vì Người là muối của đời tôi”.

Qua những câu thơ như trên, có thể nói, thơ Thanh Tùng là thứ thơ đậm đặc chất sống, tươi rói chất sống mà cũng trầm luân chất sống, mặn mòi chất muối của Hải Phòng. Hơi thở đời sống cần lao nhọc nhằn, lấm láp của thành phố những tháng năm ấy cứ hiện lên trong thơ ông những nỗi niềm trở trăn, day dứt: “Thành phố gầy như ngực mẹ tôi/ Tôi không dám mạnh chân sợ mặt đường long nhựa/ Không dám cả cười buông thả/ Sợ bao vết thương bom đạn vẫn chưa lành/ Bờ sông khúc khuỷu hoang sơ/ Nham nhở cỏ xanh tràn mép phố/ Những em gái thập thò sau khung cửa/ Ánh mắt như màu rượu lâu ngày”… (Trở về)

Cố nhà thơ Thanh Tùng tên thật là Doãn Tùng, sinh năm 1935 tại Mỹ Lộc, Nam Định nhưng lớn lên ở Hải Phòng.
Cố nhà thơ Thanh Tùng tên thật là Doãn Tùng, sinh năm 1935 tại Mỹ Lộc, Nam Định nhưng lớn lên ở Hải Phòng.

Hải Phòng lưu dấu ký ức tháng năm trong trái tim nhà thơ không chỉ là "Tiếng búa khắc vào hồn phố nhỏ/Cùng mộng mơ lảng vảng cuối con đường" cùng với "Những giọt mồ hôi từng hát lên trong suốt/ Những lưng thợ đã bết mãi vào nhau" mà thành phố quê hương còn thắp lên một tình yêu không bao giờ nguôi cũ trong đời thơ phiêu bạt ông: “Tôi có thể lại yêu thêm lần nữa/ Với trái tim nặng trĩu nhọc nhằn/ Bao nhiêu xanh tôi đã để lại cho màu liễu bên bờ hồ Tam Bạc/ Máu đã bừng lên mỗi sớm nơi đây/ Tôi vẫn khát những mặt hè như cậu bé ngày xưa/ Những tên phố rộn lên trong tôi niềm say lang bạt/ Rồi mai đây ở bất cứ nơi nào

Tôi cũng chỉ thấy mình chen chân trên đường Cầu Đất/ Hoa bằng lăng tím đến dại khờ” (Hải Phòng lúc ra đi)

Có thể nói, trái tim nhà thơ như một bảo tàng trữ tình của những ảnh hình kỷ niệm thân thương về một dĩ vãng Hải Phòng, cũng là nơi chất chứa những xúc động yếu đuối mà chân thành khi ông phải chia tay thành phố trước một chuyến đi rất xa về phương trời khác: “Mới biết mình yếu đuối nhường nào khi phải ra đi/ Nếu tôi không vội nghiến răng thì cơn gió cũng làm cho nhàu rối/ Mới thèm làm sao những em thơ nhởn nhơ quanh những gốc bàng già điềm tĩnh/ Những cô gái nước đi như hôn lên mặt hè/ Cả những người thợ đang tất bật áo quần bê bết mỡ dầu/ Tất cả nhìn tôi với tự hào và thương hại/ Tôi hiểu từ đây tất cả là của họ từ nhành cây ngọn cỏ đến vệt mưa xám xịt đã cất giữ của tôi bao dĩ vãng”.

Rồi sau những khoảnh khắc yếu đuối phút chia tay, Thanh Tùng chợt nhận ra trong cuộc đời phiêu dạt của mình những câu thơ xa xót, những câu thơ phiêu bạt của một người thơ luôn đau đáu một tình yêu máu thịt với thành phố quê hương với những liên tưởng đầy ám ảnh: “Chỉ lát nữa thôi tôi sẽ trắng tay/ Cái đồng hồ nhà ga như khuôn mặt viên quan tòa nghiêm khắc/ Những cánh cửa nhà ga cũng cương quyết mở ra rồi/ Tiếng còi tàu bàng hoàng như tiếng thét chính hồn tôi/ Tôi rối lên ôm vào tất cả”/ Hết thứ này lại thêm thứ nữa/ Như người khuân vác tham lam/ Tôi xin xỏ, giằng co rồi thương lượng/ Để mai trên quê người không quá cô đơn” (Ở ga Hải Phòng).

Đa phần những bài thơ trong tập "Còn đây một thời hoa đỏ" của nhà thơ Thanh Tùng đều nằm trong mạch chảy ngầm của những tiểu - tự - sự với giọng thơ trầm buồn, giàu chia sẻ, khơi gợi và gần gũi, thân thiết với con người. Thanh Tùng đã nâng nghệ thuật thi ca thành một cách viết tự thân giàu phẩm cách thi sĩ, nó giản dị, hồn nhiên và tươi nguyên như chính hơi thở đời sống xung quanh đã được ông đưa vào thơ theo cách giàu cảm xúc nội tâm nhất, điều mà không phải nhà thơ nào cũng có được.

Có lẽ về mặt kỹ năng viết, Thanh Tùng là một trong những bậc thầy của thơ trữ tình tự do mà bài thơ "Thời hoa đỏ" là một dẫn liệu bên cạnh những bài thơ đặc sắc khác của ông. Ở những bài thơ như thế, nhịp điệu dài ngắn của câu thơ lại phụ thuộc vào nhạc điệu nội tại của những tâm sự mà nhà thơ muốn gửi gắm, muốn chuyển tải như trong một bài thơ viết về "Hà Nội ngày trở về" của ông đã được nhạc sĩ Phú Quang phổ nhạc: “Hà Nội ơi tôi đã cất giữ người cẩn thận/ Như dưới làn da kia dẫu đã héo nhầu máu vẫn âm thầm chảy/ Hà Nội ơi, nguồn mộng mơ dày như cỏ mùa xuân/ Mỗi khi tôi thấy mình xơ xác/ Tôi lại về đánh cắp/ Dẫu một chút bóng đêm trên đường phố Khâm Thiên/ Dẫu một mảnh lá vàng còn ướt nước Hồ Gươm/ Tôi rung lên mỗi khi chạm tới bóng cửa ô/ Như được chạm vào vai gầy áo mẹ/ Tôi bé nhỏ và tôi vẫn thế/ Trái tim luôn xao động/ Như bên trong đầy ắp sóng Hồ Tây/ Vội vã trở về, vội vã ra đi/ Chẳng kịp nhận ra từng mặt phố”… (Hà Nội)

 Trong bài viết ngắn này về thơ Thanh Tùng, tôi muốn phác họa đôi nét cái chất sống-chất thơ Hải Phòng trong nhiều bài thơ của ông để thấy thành phố cảng của cần lao, phóng khoáng nơi ông sinh ra và lớn lên đã ngấm vào máu thịt, vào từng hơi thở của thi ca ông với nhiều nỗi đời, nỗi người trong gian khó, nhọc nhằn nhưng vẫn vượt lên bền bỉ một chất sống mãnh liệt của những con người không chịu cúi đầu, không chịu thua cuộc và luôn gắn bó, thủy chung với quê hương: “Tôi vẫn tin có một ngày trở lại/ Bao già nua trút ở ngoại ô/ Để lại chạy với bàn chân tinh khiết/ Phố Hàng Cau rồi phố Hàng Song/ Những đường phố trong như nước mắt/ Sông Đào lại chảy vào tôi nguồn mơ mộng/ Những cánh buồm nâu đã viết lên tôi nỗi buồn thứ nhất/ Tôi lang thang vá víu đã nhiều/ Bao nhiêu gió chẳng làm đỡ khát/ Bao nhiêu nắng chẳng làm mặn lại/ Chỉ quê hương đau đáu vẫn còn xa” (Quê Hương).

Theo tôi, sở dĩ thơ Thanh Tùng có một sức sống ngôn ngữ giàu cảm xúc, giàu chiêm nghiệm và ý tưởng mới lạ trong thi ca là do phẩm chất thi sĩ khá đậm đặc, mãnh liệt mang dấu ấn phong cách của tài năng ông với những câu thơ đã chạm vào được mạch nguồn sâu sa và tươi mới của đời sống con người, đời sống thiên nhiên, đời sống quê hương.

"Dưới màu hoa như lửa cháy khát khao/ Anh nắm tay em bước dọc con đường vắng/ Chỉ có tiếng ve sôi chẳng cho trưa hè yên tĩnh/ Chẳng cho lòng ta nguôi/ Anh mải mê về một màu mây xa/ Về cánh buồm bay qua ô cửa nhỏ/Về cái vẻ thần kỳ của ngày qua/ Em hát một câu thơ ngày cũ/ Cái say mê một thời thiếu nữ/ Mỗi mùa hoa đỏ về/ Hoa như mưa rơi rơi/ Cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi/ Như máu ứa một thời trai trẻ…".

Những câu thơ giản dị, trong suốt này ngân vang trong tâm tưởng người đọc những cung bậc tình yêu về một miền sống, miền thương yêu nơi mỗi chúng ta đã từng đi qua và luôn khát khao trở lại. Trong hành trình thơ của Thanh Tùng không thể không nói tới thơ tình, đây là một mảng thơ đặc biệt ghi dấu ấn sâu lắng và nồng nhiệt của một tâm hồn thi sĩ cháy bỏng yêu thương và luôn tụng ca cái đẹp nơi ông mà bài thơ "Thời hoa đỏ" đã đọng lại như một trong những bài thơ tình hay nhất của thi ca đương đại Việt Nam.

 Sau những năm dài đầy biến động và sống hết mình cho thi ca, một trong những bài thơ cuối cùng Thanh Tùng viết trước khi giã biệt cuộc đời gian truân và giàu mộng mơ thi sĩ của ông là bài "Khi nhà thơ đi xa" với những câu thơ dự cảm đầy tâm trạng: "Anh đã đi xa/ Chỉ còn những câu thơ ở lại/Những câu thơ tê tái/ Chạy như lá khô/ Viền tang trên trán phố chiều nay".

Tôi như thấy trong bài thơ này, Thanh Tùng đã viết về chính mình, về một nhà thơ đã sống một cuộc sống không dễ dàng gì trong những tháng năm lao khổ đầy biến động cùng với bạn bè, với Thành phố Cảng quê hương.

Ông lo lắng, nếu thành phố ấy thiếu một người thơ như ông thì lấy "Ai đi đón mùa thu ngoài đồng nội?/Ai vẽ lối cho mùa xuân trở lại?/Ai cãi cho lũ trẻ cầu bơ?/Ai nâng lên cánh hoa vừa rụng?/ Trời thấp xuống không gian chật chội/ Đàn ai từng giọt âm thầm".

Nhà thơ với nỗi lo của trái tim nhân hậu trước khi ngừng đập đã quặn lên nỗi đau đầy xúc động và ngậm ngùi khi chợt nhận ra: "Đời chỉ dành Anh chỗ xót xa/Anh vẫn ghìm từng câu thơ một/ Trận chiến này hụt sức/ Anh vẫn cần cho phía ngày mai/Anh đã đi xa/ Gió nói thế và hoa nói thế/ Có mang thơ vào cõi xanh xa".

Có thể nói, với bài thơ trên, trước lúc ra đi, Thanh Tùng vẫn như thấy mình còn cần cho cuộc chiến "chống lại cái ác và cứu rỗi cái đẹp" ngày mai như một Tráng - sĩ - thơ giàu chất sống phóng khoáng, phiêu bạt và thấm đẫm chất Hải Phòng nơi thi ca ông.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.