Hoàng Việt và bản tình ca hay nhất mọi thời đại

Những ai yêu âm nhạc, nhất là những người thích ca hát không thể không biết bài hát nổi tiếng của nhạc sỹ Hoàng Việt có tên “Tình ca”. 

Những bạn theo đuổi nghề hát, mong trở thành ca sỹ mà không thuộc bài này thì thật khó chấp nhận. Bởi đó là một tác phẩm thanh nhạc mẫu mực về các thủ pháp sáng tác và đặc biệt là có rất nhiều “đất” để các bạn “dụng võ”, tức là bằng bài này có thể bộc lộ được tất cả mọi điểm mạnh, yếu trong giọng hát với mọi kỹ thuật thanh nhạc hiên đại.

Chính vì vậy nên bài này luôn được coi là một trong những tác phẩm mang tính cổ điển mọi học sinh đều phải vượt qua trong các kỳ thi tốt nghiệp môn thanh nhạc tại các nhạc viện. Tôi cho rằng đây là bài tình ca hay nhất (cho đến phút này) trong nền âm nhạc cách mạng Việt Nam.

Nhạc sỹ Hoàng Việt và vợ.
Nhạc sỹ Hoàng Việt và vợ.

Hoàng Việt sinh năm 1928 ở huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Ngay từ những năm còn rất trẻ, trong kháng chiến chống Pháp, ông trực tiếp cầm súng chiến đấu ở miền Đông Nam Bộ và đã có những bài hát rất hay được lan truyền khắp rộng rãi như “Lên ngàn”, “Nhạc rừng”, “Lá xanh”, “Đánh giặc giữ làng”, “Mùa lúa chín”…

Tất cả những bài này đều dạt dào âm hưởng tươi trẻ, lạc quan và có ngôn ngữ âm nhạc mang đậm phong vị dân tộc. Kháng chiến chống Pháp thành công (1954), Hoàng Việt tập kết ra Bắc, để lại quê nhà người vợ trẻ và ba đứa con thơ. Chàng thanh niên mới 26 tuổi đã có 3 con nhỏ ấy ngày đêm thương nhớ vợ con da diết.

Khoảng cách “trập trùng xa xa” hàng ngàn cây số khiến ông không giây phút nào nguôi ngoai những hình ảnh, kỷ niệm về quê hương và những người thân yêu. Ra Bắc, ông được vào học Trường Âm nhạc Việt Nam và là một trong số ít những nhạc sỹ đầu tiên của Việt Nam được vào học trường nhạc chính quy tuy khi ấy mới chỉ là trung cấp.

Theo quy định của Hiệp nghị Geneve, hai miền Nam Bắc nước ta chỉ tạm thời chia cắt, đến năm 1956 sẽ tổng tuyển cử thống nhất. Nhưng đến thời hạn, kẻ địch tráo trở, phản bội nên việc này không thành và đất nước đã phải kéo dài tình trạng chia cắt cho mãi tới ngày giải phóng miền Nam (30- 4-1975). Đây là những ngày tháng Hoàng Việt khắc khoải nhớ vợ con vì đã gần 3 năm đằng đẵng, bặt tin. Ông chỉ còn biết lao vào học tập và chờ đợi.

Thế rồi một ngày kia, ông sung sướng tột cùng khi nhận được thư của vợ. Nhưng đất nước lúc ấy đang chia cắt nên thư phải đi vòng: Từ miền Nam sang Pháp rồi lòng vòng qua nhiều nước khác, cuối cùng mới về được đến Hà Nội. Ông mừng tủi, nước mắt tuôn trào. Bao nhiêu cảm xúc dâng đầy.

Quê hương ông lúc đó đang rên xiết dưới ách kiềm tỏa của quân thù, nhưng cũng anh hùng vượt lên trong đấu tranh và tại nơi đó đang có người vợ hiền thảo cùng 3 đứa con thơ. Đương nhiên là Hoàng Việt thôi thúc việc biên thư hồi âm ngay cho vợ. Nhưng biết gửi thế nào? Biết bao giờ thư mới đến tay vợ?

Khi ấy, kẻ thù đang còn mạnh, chính quyền của chúng đang xiết chặt ách cai trị, kiểm soát ở khắp nơi. Thư về được tới tay vợ có khi phải vài tháng. Để cho nhanh, ông nghĩ tới việc viết lá thư trên bằng bài hát. Chắc chắn khi phát trên làn sóng, vợ con ông sẽ nghe được nhanh nhất.

Thế là tại nơi ông đang ở lúc đó – căn phòng nhỏ gác 2 ngôi nhà số 13 phố Cao Bá Quát, Hà Nội (là địa điểm của Trường Âm nhạc Việt Nam khi mới thành lập), vào một đêm mùa xuân năm 1957, bài hát đã ra đời. Ông đặt tên là “Tình ca”. Ông viết một mạch đến sáng thì hoàn thành.

Có lẽ do cảm xúc dồn nén, đến lúc bật ra, lại đã từng viết nên nhiều bài hay từ trước đó nên Hoàng Việt đã hoàn tất tác phẩm khá nhanh. Tôi may mắn có trong tay bút tích bản thảo đầu tiên của ông với nét chữ khoáng đạt. Ở bản thảo này mới chỉ có một lời ca: “Khi hát lên tiếng ca gửi về người yêu quê ta/ Ta át tiếng gió mưa thét gào cuộn dâng phong ba/ Em ơi nghe chăng lời trái tim vọng ra/ Rung trong không gian mặt biển sôi ầm vang…”.

Lúc đầu, Hoàng Việt không có ý làm hai lời. Nhưng trước khi gửi đến Đài phát thanh, ông được nhạc sỹ Lưu Hữu Phước khuyên nên viết thêm lời 2 cho có chất chính trị, tuyên truyền. Và ông đã nghe theo để có lời thứ 2: “Ta hát chung tiếng ca vang dội từ nghìn phương xa/ Em hãy ngước mắt lên vui nhìn trời xanh quê ta/ Chim dăng dăng bay ngoài nắng xuân đẹp thay/ Tan cơn phong ba trời đất yên rồi đây….”.

Quả tình nếu nghiên cứu kỹ lời 1, ta thấy đã đầy đủ. Nhưng văn nghệ thời đó cần những điều cụ thể gắn chặt với bối cảnh cụ thể, với những nhiệm vụ, chức phận cụ thể nên ở lời 2, Hoàng Việt mới có những câu: “Xua kẻ thù đi mau, dập tắt chiến tranh đẫm máu, đập tan ngay bao đau khổ và chia ly”.

Ta hoàn toàn có thể chấp nhận điều đó bởi lẽ tình yêu lứa đôi không thể thoát ly hoàn cảnh chung của xã hội và số phận mỗi con người, trong đó hạnh phúc, tình yêu luôn gắn liền với số phận đất nước, dân tộc. “Tình ca” vì thế mà có tầm khái quát lớn, trở thành tâm sự, khát vọng chung của nhiều đôi lứa khác trong bối cảnh đất nước chia cắt, lứa đôi bị phân ly.

Không có một lời than vãn, tiếng rên rỉ não nuột hèn yếu nào. Tác giả không gặm nhấm những nỗi niềm riêng tây lẻ loi, ích kỷ của kẻ đang sống trong biệt ly mà đem đến cho người yêu của mình lời sẻ chia, sự vỗ về và hướng nàng tới niềm tin một ngày chiến thắng, ngày sum họp chẳng những chỉ riêng hai người mà cả dân tộc.

Hoàng Việt đã thể hiện một tình yêu vị tha, cao thượng của một người đàn ông luôn ở vị thế sẵn sàng gánh vác, chia sẻ mọi điều cùng người yêu, luôn cổ vũ động viên, mang tới cho nàng niềm vui, lạc quan, phấn khích để vượt qua hiện thực tăm tối.

Nguyễn Thụy Tình Ca, cô cháu gái của nhạc sỹ Hoàng Việt.
Nguyễn Thụy Tình Ca, cô cháu gái của nhạc sỹ Hoàng Việt.

Ta hình dung tác giả bài hát – chủ thể cảm xúc – như một chàng trai đã sống đúng tư cách, tư thế của mình, một cái gì đó rất đàn ông, rất bao dung, mạnh mẽ và giàu ý chí, nghị lực tuy cũng rất đắm say, lãng mạn trước người tình. Nó đã khác hẳn tính chất bi lụy, yếu hèn của nhiều “chàng trai” hiện ra trong nhiều bài tình ca tầm thường chẳng những xuất hiện ở dòng nhạc lãng mạn xưa, ở vùng giặc tạm chiếm trước đây, vùng Mỹ - ngụy kiểm soát trước ngày giải phóng miền Nam mà còn khá nhiều, thậm chí có chiều hướng gia tăng hiện nay mà nhiều bạn ca sỹ trẻ vẫn thích thú thể hiện trên các sân khấu.

Có thể thấy một trong những bài hát tiêu biểu của dạng này khá “nổi tiếng” có những câu: “Tôi khóc trên vai em lần cuối cùng rồi thôi…”.

Một điều không thể không nói về bài hát này là mặc dù tính “chính trị” đã được tác giả tự ý thức bằng việc làm thêm lời 2 như đã nói, vậy mà sau khi ca sỹ trứ danh Quốc Hương hát trên làn sóng, một vài người làm công tác tuyên giáo lúc ấy đã đề nghị không phát tiếp vì cho rằng bài hát nói chuyện yêu đương, nhớ nhung giữa lúc đang còn đấu tranh khốc liệt với kẻ thù là không hợp. Và sau đó, phải đến 10 năm, “Tình ca” tạm thời bị gác lại, không được phát trên làn sóng.

Cùng với bài này, còn có một số bài rất có giá trị khác cũng chung số phận như: “Tâm tình người thủy thủ”, “Nhớ” (Hoàng Vân), “Gửi người em gái miền Nam” (Đoàn Chuẩn), “Nhớ” (Lê Yên phổ thơ Thanh Hải)… Trước sự việc này, Hoàng Việt rất buồn, đã khiến ông bị tắc nguồn cảm xúc trong một thời gian dài, không viết được gì.

Tuy nhiên, sức thuyết phục tự nhiên của một tác phẩm lớn đã vượt lên trên những quan điểm thiển cận, hẹp hòi để đến với công chúng rộng rãi và 10 năm sau, khoảng năm 1967, bài hát được “phục hồi”, lan tỏa rất nhanh. Nhưng thật đáng tiếc là đến cuối năm đó khi bài hát đang rất nổi tiếng thì Hoàng Việt qua đời, không được chứng kiến số phận bất diệt tác phẩm của mình.

Ngay trong lúc yêu thương tha thiết nhất, Hoàng Việt vẫn không chỉ nghĩ đến cá nhân mình mà vẫn tâm niệm tình yêu riêng tư phải hòa trong bản tình ca chung. Bản tình ca ấy phải là một thứ cao cả, quý báu nhất để “dâng cả bao người”.

Mới thấy thật dễ hiểu, 10 năm sau ngày “Tình ca” ra đời – 1967 – ông đã tình nguyện trở về quê hương miền Nam chiến đấu ngay sau khi tốt nghiệp Nhạc viện Sofia (Bungari). Ông vô cùng hạnh phúc vì gặp lại được vợ, con cùng đồng bào, đồng chí và biết họ đã được nghe bài hát qua làn sóng điện.

Người vợ yêu quý của ông kể lại rằng chính nhờ bài hát mà bà đã có thêm sức mạnh để nuôi con, làm việc và tin tưởng ở ngày mai sum họp. Lần nào nghe bài hát, bà cũng khóc và nỗi nhớ, tình yêu thương chồng đã khiến bà có thêm nghị lực để nuôi dạy 3 đứa con, hoạt động và chiến đấu.

Lần trở về ấy, vợ chồng nhạc sỹ đã kịp có thêm đứa con thứ tư trước lúc ông vĩnh viễn ngã xuống vào ngày cuối cùng của năm đó (31- 12- 1967) - trong một trận chiến đấu ngoan cường với quân thù khi mới ở tuổi 39 – đỉnh cao phong độ, khi ông đang tràn đầy cảm xúc và nhiều dự định sáng tác lớn lao.

Với những cống hiến lớn lao cho nền âm nhạc cách mạng, năm 1996, nhạc sĩ Hoàng Việt được Nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I. Năm 2012, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang. Tại TP. Hồ Chí Minh, năm 1985, một đường phố đã mang tên ông. Ông vĩnh viễn ra đi đã gần nửa thế kỷ. Nhưng tên tuổi cùng các tác phẩm trong đó có bản tình ca lớn nhất mọi thời đại vẫn ngân vang mãi trong tâm khảm mọi thế hệ công chúng.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.