Hoàng Thụy Anh - Đa thanh văn bản lạ

Gặp nhà văn Hoàng Thụy Anh, tôi không giấu được thắc mắc. Nếu người lao động văn chương nói chung là “phu chữ”, thì Hoàng Thụy Anh với tư cách “người cày” gian nan hơn nhiều. Một cô gái nhỏ nhắn và sương khói đến thế, lấy đâu ra “nội lực” để đa thanh đến thế?

1. Vốn là cô giáo dạy văn ở một làng quê thuộc huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, hằng ngày ngọt ngào giữa bầy em thơ nhưng rồi cái “nghiệp phu chữ” vận vào Hoàng Thụy Anh từ lúc nào không biết. Đam mê văn chương, nghiền đọc...

Hoàng Thụy Anh trở thành “người cày” trên “cánh đồng” lý luận văn chương. Cho đến nay, nhà lý luận phê bình Hoàng Thụy Anh đã lần lượt xuất bản các tập sách: “Thơ Hoàng Vũ Thuật - nhìn từ thi pháp học của Roman Jakobson”- (chuyên luận), NXB Thuận Hóa 2010, “Bản xô-nát thi ca”- (tiểu luận - phê bình), NXB Hội Nhà văn 2012, “Tiếng vọng đa thanh”- (tiểu luận - phê bình), NXB Hội Nhà văn 2016 và cuối năm 2018, trình làng “Phê bình văn học & ý thức Khác” – NXB Hội Nhà văn. Chữ “Khác” của Hoàng Thụy Anh viết hoa ký tự “K” – một nội hàm. Tên sách như một “tuyên ngôn” của nhà văn Hoàng Thụy Anh trong địa hạt phê bình.

Công bằng mà nói, đời sống văn học đầu thế kỷ XXI, những người trẻ nghiên cứu lý luận phê bình văn học ngày càng hiếm, nhất là nữ. Thập niên thứ hai, cây bút trẻ Hoàng Thụy Anh xuất hiện, xuất bản liên tiếp bốn tập tiểu luận phê bình khá vững vàng, sắc sảo.

Tôi nhớ, với thơ, khi “Ông Hoàng thơ tình” Xuân Diệu mất, một nhà thơ lớn đã thốt lên: “Từ nay đã thiếu một người cầm barie cho thơ”. Về phê bình văn học nói chung, những năm ấy cho tới đầu thập kỷ XXI, Vương Trí Nhàn nổi lên, cần mẫn. Cảm tưởng chung là, những nhà “phê bình” có “thương hiệu” dắt được bạn đọc tìm đến tác phẩm ngày càng hiếm hoi. Nhân nói về phê bình văn học, một lần nhà thơ Vương Cường nhận xét: “Theo mình, gọi là lý luận phê bình nhưng về “lý luận” thì ta đã và tiếp tục lúng túng. “Phê bình” thì mới dừng ở mức “bình”, chưa đáng gọi là “phê” đâu”. Ông có lý khi đưa ra ý kiến này.

Nhà phê bình văn học Hoàng Thụy Anh.

Nhà phê bình văn học Hoàng Thụy Anh.

Phải chăng vì “không khí” ấy mà ít các cây bút nữ dám tham dự và để lại dấu ấn? Những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI cũng có tín hiệu vui khi một số cây bút lý luận phê bình trẻ phái nữ gắn bó, đồng hành với hơi thở nhịp sống sáng tạo văn học, lao vào nghiên cứu những tác phẩm hoàn toàn mới bằng cách vận dụng các lý thuyết vào công việc nghiên cứu, góp phần tạo động lực mạnh cho giới sáng tác.

Hoàng Thụy Anh tốt nghiệp thạc sỹ lý luận văn học nhưng không trở lại môi trường giáo dục mà về làm việc ở Tạp chí Nhật Lệ của Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Quảng Bình. Một đồng nghiệp, đồng hương cùng thế hệ là Tiến sĩ Mai Thị Liên Giang cho rằng: “Hoàng Thụy Anh hướng đến quá trình xác lập giá trị văn học của văn bản một cách cụ thể. Từ trách nhiệm của một người phê bình khách quan, Hoàng Thụy Anh luôn đặt mình trong sự đối thoại với các văn bản thông qua hoạt động đọc hiểu”.

Nếu như tác phẩm đầu tay nhà văn Hoàng Thụy Anh chuyên khảo về thơ của một tác giả thì đến tác phẩm thứ hai “Bản xô-nát thi ca”, chị đã nghiên cứu thơ của nhiều tác giả. Đến tác phẩm thứ ba “Tiếng vọng đa thanh”, hướng nghiên cứu, phê bình của chị mở rộng ở nhiều thể loại. Hoàng Thụy Anh đã đối thoại với “văn bản” của các tác giả từ Bắc chí Nam, trong đó chỉ có nhà thơ Lưu Trọng Lư từ thời Thơ mới, hay Ngô Kha và Hoàng Vũ Thuật từ thời chiến tranh chống Mỹ, còn lại chủ yếu các tác giả trưởng thành sau ngày đất nước thống nhất năm 1975, thậm chí có tác giả mới xuất hiện gần đây.

Đến tác phẩm thứ tư “Phê bình văn học & ý thức Khác” trong tổng số 22 bài, có 3 bài luận về văn chương từ cái nhìn tổng quan, 19 bài tiếp cận với các tác giả, tác phẩm mới. Hoàng Thụy Anh đặt “bàn chân” sơn nữ lên “ý thức Khác” không phải vì “tò mò” với vẻ đẹp mà tìm đến “khế ước” của cái đẹp. Chị làm phê bình với cái đầu lạnh của một nhà nghiên cứu, trái tim nóng của một tác giả thơ giàu cảm xúc.

2. Mải mê với lý luận phê bình, năm 2017, Hoàng Thụy Anh trình “thi đàn” tập thơ đầu tay “Người đàn bà sinh ra từ mưa” – NXB Hội Nhà văn. Thú thực, tôi là người được đọc thơ chị khá sớm, từ những bản tag trên trang cá nhân nhưng không khỏi bất ngờ khi Hoàng Thụy Anh “lâm bồn” tập thơ này. Tập thơ dày dặn gồm 69 bài, 219 trang. Nhiều nhà nghiên cứu về thơ khám phá “văn bản” Hoàng Thụy Anh và dành cho tác phẩm này nhiều cách gọi: “ám ảnh đêm” – Trần Hoài Anh, “không gian mơ tưởng” - Phan Tuấn Anh, “thân thế như tinh thần và thế giới” – Nguyễn Chí Hoan, “bản ngã cô đơn” – Lê Hương, “căn cước tình yêu” – Bùi Việt Thắng.

Hoàng Thụy Anh đưa người đọc vào thế giới thơ chị với những trạng cảm ẩn ức, đòi hỏi sự chiêm nghiệm, suy tưởng... Lướt qua không “ngộ” được thơ chị, đọc một đôi lần khó cảm thơ chị.

Hãy xem, chị “chấm phá” chân dung mình như thế nào? “người đàn bà sinh ra từ mưa/ ăn mùi hoàng hôn rớt lại của mùa đông trước/ ăn nhánh khô gầy trên môi gió/ ăn chồi buồn vừa nở trong đôi mắt ngập nước/... “cuộc đời người đàn bà đan cơn mưa cơn mưa đan người đàn bà/ như đốm buồn này luồn đốm buồn khác/ như kẹt đau này chồng kẹt đau khác/ giấc ngủ nào mới đến đã cạn cuối bấc đêm” (Người đàn bà sinh ra từ mưa)

Thơ là “cánh đồng của một người” đến “cánh đồng của một người”, từ “trắc ẩn” đến sẻ chia, từ gông cùm đến tự do. Hoàng Thụy Anh dụ người đọc vào thế giới ký tự của chị, buộc con người phải suy tư, sống chậm.

Hoàng Thụy Anh sương khói là vậy, dè dặt là vậy và ngọt trong “tiếng dạ miền Trung” là vậy, nhưng đấy chỉ là một trạng thái của núi lửa chực chờ Big Bang, phun trào nham thạch của “Vụ Nổ Lớn”. Đọc “Người đàn bà sinh ra từ mưa”, tôi nghĩ: mưa bung biêng những nước, oặt mềm như nước, quyến rũ như nước nhưng cũng rắn như nước, hiểm nguy như nước. Nhiều lúc tôi cảm như Hoàng Thụy Anh là một “nhà vi phẫu” bóc tách từng ký tự, một “thẩm phán” nhiều kinh nghiệm nghề nghiệp đang tra khảo ngôn từ vậy.

Chị tuyên ngôn về thơ “Sáng nay tôi quyết lột trần ngôn từ giả vờ kia/ tắm nước thánh/ tẩy trùng/ may ra còn cứu vãn/đời tôi/thơ tôi” (May ra). Hoặc nữa “Chữ là mộ phần riêng ta” (Chờ đợi mùa xuân chảy từ một ô cửa khác). Công khai, quyết liệt với câu chữ.

Viết về tình yêu, nỗi niềm trắc ẩn và khát vọng của người đàn bà yêu, có lẽ tác giả nữ tinh tế, thành công hơn. Trong thơ Hoàng Thụy Anh, nỗi đau của thân phận nữ, ở chiều cảm còn khuất trở thành nỗi ám ảnh. Đó là cảm thức hiện sinh của cuộc sống hiện đại. Đó là hình tượng những “người đàn bà rướn mình vào bóng tối/ thấy đêm không thể thoát ra ngoài gương mặt bồ hóng cũ kỹ/ giống hệt sợi đau mãi nằm co ro giữa vùng trũng/ người đàn bà vẫn cần mẫn vá lỗ đêm bằng đường chỉ tự do/ khép cơn khóc rỗng giọng sau tiếng thở dài”... Đó là người đàn bà giao ước được phân thân “người đàn bà giao ước với đêm/ chia đều mớ mưa/ chẳng phải để mua chẳng phải để bán chẳng phải làm quà/ chỉ để nhận diện và gọi tên từng vết thương đang chảy tràn qua nhau” (Người đàn bà sinh ra từ mưa).

Chị đã lặn ngụp vào “thế giới đàn bà” để cảm và sẻ chia theo cách của mình. Một Hoàng Thụy Anh đã “xác quyết” không “giẫm” lên ai cả trong phê bình lẫn thơ.

Bìa tập sách mới của Hoàng Thụy Anh.
Bìa tập sách mới của Hoàng Thụy Anh.

3. Nhiều lần Hoàng Thụy Anh nhắn tin hoặc gọi điện thoại cho tôi: “Anh mua giúp em quyển ni...”. Tất nhiên, đôi lần tôi không “lùng” được nên chị “nản”. Có điều tôi thấy, dường như thời gian của chị chỉ là đọc và khám phá. Tháng 5/2019, khi nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu gửi vào cho Hoàng Thụy Anh “Phồn sinh” (trường ca), NXB Hội Nhà văn dày đến 710 trang, in trên khổ 16x24, chưa đến nửa tháng, Hoàng Thụy Anh đã có một tiểu luận dày dặn. Tôi choáng. “Em mê trường ca này của Nguyễn Linh Khiếu”, Hoàng Thụy Anh nói với tôi. Tôi biết, không riêng tác phẩm của Nguyễn Linh Khiếu, “văn bản” lạ tạo nên sức hấp dẫn đối với Hoàng Thụy Anh. Dường như chị nguyện làm một “tín đồ” của phê bình, đã và tiếp tục vắt kiệt mình với văn chương.

Tôi nhớ, tham luận cuối cùng của nhà thơ Xuân Diệu gửi Đại hội những người viết văn trẻ toàn quốc năm 1985 có tiêu đề “Sự uyên bác và công việc làm thơ”. Để có thơ hay, nhà thơ cần nhiều tố chất, nhưng cái nền để tố chất ấy phát tác thành thơ phải là uyên bác. Làm phê bình càng phải uyên bác.

Không phải tự nhiên, trong địa hạt phê bình, Hoàng Thụy Anh đạt được thành tựu ấn tượng. Chị ngày càng đa dạng hơn trên nền tảng thi pháp học, cấu trúc, giải cấu trúc, phân tâm học, hậu hiện đại,… và vận dụng nhuần nhuyễn, hệ thống. Chị ngày càng đa thanh hơn nơi tháp ngà lộng lẫy của văn học.

Từ Tâm

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.