“Hoàng Lê nhất thống chí” - Tiếng cười trò hóa, hề hóa!

“Hoàng Lê nhất thống chí” viết bằng chữ Hán của nhóm tác giả Ngô gia văn phái là tác phẩm văn xuôi tự sự đầu tiên có quy mô như một bộ sử thi. Những sự kiện quan trọng trong lịch sử Việt Nam từ cuối đời Lê Hiển Tông (1740 - 1786) đến đầu đời Gia Long (1802- 1820) được ghi lại khá tỉ mỉ.

Không ghi chép lại một cách khô khan như một cuốn sử biên niên, các tác giả đã dựng lên những bức tranh sinh động, tạo được không khí và đi sâu vào bản chất lịch sử để nêu lên quá trình suy vong không gì cưỡng nổi của chính quyền phong kiến. Chất muối hài trào phúng góp phần đưa tác phẩm trở thành một trong những đỉnh cao của văn học trung đại.

Cảnh triều vua Lê bù nhìn!
Cảnh triều vua Lê bù nhìn!

Nhân vật tự mình đóng trò, dựng ra những màn trò để che mắt người khác hoặc che đậy bản chất thật của mình, tiêu biểu là vua Cảnh Hưng. Bị chúa Trịnh Sâm chèn ép mà chấp nhận an phận làm bù nhìn, khi bề tôi ta thán, ái ngại cho cảnh “Hoàng đế” bị mất thực quyền, chịu nhục thì vua mới bảo: “Các ngươi chỉ biết có một mà không biết hai, nhà vua đối với nhà chúa hiện nay đang vào ở cái thế bị ngờ vực nếu trẫm lấy việc mất quyền làm tức giận thì nhà chúa ắt ngầm tính chuyện chẳng hay. Vì vậy mà trẫm phải mượn hứng vui chơi như thường để tránh tai vạ đó thôi”. Thì ra vua này “khôn” chứ cũng chẳng đến nỗi dại. Vua đóng trò để che mắt nhà chúa!

Nhưng đóng trò giỏi nhất là Đặng Thị Huệ. Mở đầu tác phẩm, người đọc đã thấy một cảnh tượng hài hước diễn ra ngay trong phủ Chúa. Nàng Thị Huệ “giận dỗi”, “nũng nịu” Trịnh Sâm. Một nét “xây xẩm” của nàng cũng khiến Chúa rối lòng. Một hành động ném viên ngọc xuống đất của thị cũng làm Chúa “phải tìm nhiều cách dỗ dành cho ả vui lòng”. 

Một vị tướng tài ba đã lập bao nhiêu công trạng, được coi “là người cứng rắn, thông minh, quyết đoán sáng suốt, trí tuệ hơn người, có đủ tài về văn lẫn võ”, thế mà vẫn bị một ả xuất thân bần tiện đóng trò lừa dối để biến thành một vị quân vương mê muội chốn phòng the. Thị Huệ cũng chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến kết cục thảm bại của triều đình chúa Trịnh. 

Hành động đóng trò của nhân vật này vừa lật tẩy con người thực của Chúa, vừa làm rõ cái gian manh ghê gớm của kẻ “đàn bà dễ có mấy tay”. Không ngẫu nhiên chi tiết này được đặt ở phần mở đầu, như muốn nói nhà Chúa “dột từ nóc”, từ trong cung cấm, từ chốn buồng the của Chúa.

Một màn trò hài hước mà đậm chất bi là sự gặp gỡ đầy nghịch cảnh của ba người Thị Huệ, Thánh Mẫu và Trịnh Sâm. Hai người đàn bà đóng trò diễn kịch còn Trịnh Sâm là nạn nhân đáng thương. Hai người, một là mẹ, một là vợ đóng trò trước người con, người chồng sắp chết. Họ đều tỏ ra thương Chúa sắp băng hà nhưng thực chất là “thương” cái ngôi chúa. 

Trước đó mâu thuẫn giữa Trịnh Sâm và Thánh Mẫu cũng xuất phát từ cái ngôi chúa ấy. Thánh Mẫu bênh vực và muốn Trịnh Tông lên ngôi xuất phát từ cái lí và cái tình của người đàn bà, cũng là cái lý, cái tình của một người chủ gia đình truyền thống muốn lịch sử đi đúng theo “con đường ray” đạo lý là con trưởng nối ngôi. Bà chẳng ưa Thị Huệ cũng là tất nhiên, chỉ vì Chúa mê ả, nghe theo ả mà mọi chuyện trong phủ rối tinh cả lên.

Giây phút lâm chung của Trịnh Sâm là một bi hài kịch, mỗi người đeo đuổi một tâm trạng riêng. Trịnh Sâm khóc, xúc động vì ngỡ mẹ, vợ xót xa đau khổ vì mình. Ông ta còn lo sợ hai người thân yêu nhất vì quá đau đớn mà làm chuyện dại dột. Hết dặn mẹ lại quay ra dặn vợ, đừng quá đau lòng, đừng quá xót thương...!!! 

Chúa đâu biết Thánh Mẫu khóc thương con thì ít mà lo nghĩ về ngôi Thế tử thì nhiều nên cứ dùng dằng không ra ngoài. Tất cả những cử chỉ “nức nở, sụt sùi, ngập ngừng” kia đều là giả dối. Còn vợ thì khóc lóc, lại còn diễn trò cắt tóc thề, đòi chết theo chồng nhưng thực chất chỉ vì “tờ cố mệnh” tức tờ sắc phong Tuyên phi chưa xong. Mà có trở thành Tuyên phi thì ngôi chúa mới chắc vào tay con thị - Trịnh Cán. Có vậy thị mới thành Thánh Mẫu! 

Đáng thương cho Trịnh Sâm đến chết vẫn cô đơn, đến chết vẫn bị lừa dối. Trong vở kịch ấy, chỉ có ông ta là nói và nghĩ thực lòng mình. Còn hai người kia chỉ là “nước mắt cá sấu”!

Với một hài kịch thường là có kẻ thua người thắng, người phải người trái, người mất kẻ được. Ở đây cả hai mẹ con Trịnh Sâm đều thua Đặng Thị Huệ, kẻ đóng trò giỏi hơn, ma mãnh hơn. Thị khóc để đóng trò, bên ngoài ả khóc mà bên trong thì hả hê. Thánh Mẫu đành chịu rút lui trong đau khổ, phẫn uất, tức tưởi. Đau khổ vì đứa con đã chết. Phẫn uất vì căm thù Thị Huệ. Tức tưởi vì ngôi chúa mất vào tay Trịnh Cán.

Nếu trò hoá thì nhân vật chủ động đóng trò nên mang tính chủ quan còn hề hoá là do khách quan bên ngoài phát hiện ra tính chất xấu xí mà có khi nhân vật không biết.

Hành động “mờ ám” của Quận Huy với Thị Huệ là một trò hề: “Trăm quan ít sáng nhiều mờ/ Để cho Huy Quận vào sờ chính cung”. Nhưng bị hề hoá đến cao độ phải là nhân vật Lý Trần Quán. Ông ta đại diện cho kiểu nhân vật trung thành tuyệt đối với quan niệm tôn phù nhà Lê. 

Hành động tự chôn mình để bảo toàn “khí tiết” của kẻ nho sĩ, tiếc rằng, vì là “ngu trung” nên trở thành trò cười cho thiên hạ. Những câu nói tưởng là biểu hiện của niềm trung hiếu trở thành hài hước, ngô nghê, đáng thương. Đúng là cười ra nước mắt: “Hãy còn thiếu một câu nữa, phải nói hết cái đã”,“Phiền ông đem câu ấy dặn lại con ta, bảo nó sau này dán ở nhà thờ mà thờ ta”…

Tác phẩm trên nền cảnh thời vua Lê chúa Trịnh!
Tác phẩm trên nền cảnh thời vua Lê chúa Trịnh!

Cảnh chúa nhỏ Trịnh Cán lên ngôi cũng được miêu tả theo nguyên tắc “hề hoá”. Thế tử được Quận Diễm “bế” lên ngôi chúa, rồi lại được “bế” vào cung để lạy Thánh Mẫu. Sau đó, mọi người lại nhanh chóng thay triều phục, mặc áo trở để làm lễ phát tang chúa bố. Một màn “lên ngôi” vội vã, lạ đời, một đứa trẻ mới năm sáu tuổi, lại sài đẹn, “rốn lồi cả gang” nay được lên chức “Chúa” mà chính “Chúa” cũng chẳng biết đó là chức gì, càng chưa biết phải làm gì.

Màn kịch hề hoá đáng xem, đáng cười nhất là màn Trịnh Tông lên ngôi chúa. Nhưng trước đó là những sự chuẩn bị mang tính “đạo cụ” cũng hài hước không kém. “Lãnh đạo” đội kiêu binh là viên Biện lại đội Tiệp Bảo tên Bằng Vũ được giới thiệu: “Gã người thấp bé, thanh nhã như dáng học trò. Sau khi vào đội Tiệp Bảo, nhờ biết dăm ba chữ, gã được làm chân Biện lại. Ở kinh, gã thường làm mướn đơn kiện cho người ta, vẫn lừng tiếng là tay điêu toa trong việc xui nguyên giục bị”. 

Điều này đã cho thấy bản chất của kẻ không tử tế. Đến khi cái giọng của hắn được miêu tả là “sỗ sàng” thì rõ một kiểu lưu manh: “Chỉ sợ anh em không cùng một bụng thôi. Chứ nếu ba quân đồng lòng, thì bất quá chỉ thừa dịp cúng cơm sáng xong, đánh một hồi trống trong phủ làm hiệu, rồi kéo ùa cả vào, nắm cẳng hắn, vứt chỏng gọng xuống dưới thềm một cái là xong thôi mà!”. Đấy là lời Bằng Vũ bàn với đám kiêu binh, nhờ lời này mà hắn được tôn làm “thủ lĩnh”.

Một cuộc đảo chính bát nháo, vô chính phủ, tự phát, hỗn loạn, ô hợp được thể hiện qua nhiều chi tiết mỉa mai đắt giá. Mưu đồ cuộc binh biến thay “chính phủ” mà lại được bắt đầu từ một anh đầu bếp có tên Dự Vũ, tiếp đến là một gia thần của Trịnh Tông có tên Gia Thọ. Cuộc họp của “Bộ Chỉ huy” bắt đầu là “một cuộc đánh chén”, Trịnh Tông “mời bọn biện lại trong đám thân quân đánh chén”. Cuộc binh biến “nổi dậy” này như một màn trò, đám kiêu binh là những kẻ làm trò, còn Trịnh Tông là anh hề, không hơn!

Cảnh Trịnh Tông lên ngôi chúa, một màn tấn phong cũng là một màn hài kịch: “Họ kiệu thế tử lên vai, rồi đứng xúm chung quanh gào lên vui sướng”. “Trong lúc gấp vội không có kỷ sập, phải dùng tạm chiếc mâm vẫn bày cỗ lộc làm ghế, đặt thế tử ngồi lên, rồi tám người kề vai vào khiêng. Chốc chốc họ lại nâng bổng chiếc mâm lên đầu mà đội, đầu mỏi lại hạ xuống vai, rồi vai mỏi lại nâng lên đầu. Những kẻ buôn bán ở các phố phường đều tranh nhau kéo đến xem chúa, sân phủ đông như họp chợ”.

Chúa mới bị hạ thấp theo kiểu vật hoá một cách triệt để. Chúa được đặt lên chiếc mâm vốn để bày cỗ lộc thì khác gì coi Chúa cũng chỉ là thứ “lộc” hoa quả hay rượu thịt. Lối so sánh càng làm rõ tính chất vật hoá “giống y như người ta giỡn quả cầu hoặc rước pho tượng Phật”. Người ta kéo đến“xem Chúa”, đông đến mức “sân phủ chúa đông như họp chợ”, thì khác gì coi Chúa chỉ như hàng hoá ngoài chợ vậy!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...