Họa sỹ Nguyễn Văn Tuấn và những dự cảm...

Một ngày giữa tháng 3/2024, tôi cùng một nhóm nhà văn ghé thăm tư gia của họa sĩ điêu khắc Nguyễn Văn Tuấn ở Phú Xuyên, Hà Nội. Sau buổi hàn huyên, Tuấn trao cho tôi 2 tập bản thảo và dặn: "Tôi xuất bản hai tập thơ này, ông giúp tôi nhé!". Giờ đây, khi những trang bản thảo của hai ấn phẩm "Từ trong thớ gỗ" và "Cởi áo mùa yêu" có quyết định xuất bản, thì người họa sĩ tài hoa và hào sảng ấy đã về miền mây trắng.

Họa sĩ điêu khắc Nguyễn Văn Tuấn sinh năm 1974, năm Giáp Thìn này anh vừa chạm tuổi ngũ tuần, cái tuổi bắt đầu "chín" cả về lao động nghệ thuật và cuộc sống, bởi vậy nên sau sự ra đi đột ngột của anh là bao dở dang gửi lại. Người họa sĩ ấy đi rồi, nhưng bạn bè và bạn đọc như vẫn thấy anh đâu đó trong hồn vía một câu thơ, một pho tượng, một bức vẽ ấn tượng mà anh để lại cõi này! Nguyễn Văn Tuấn là một nhà điêu khắc, một thi sĩ thực sự có tài. Những tác phẩm điêu khắc của anh hiện diện trong nhiều công trình đền chùa miếu mạo vài chục năm trở lại đây!

1111.jpg -0
Họa sĩ Nguyễn Văn Tuấn bên một tác phẩm tượng Hộ Pháp.

Với thơ, Nguyễn Văn Tuấn chưa xuất bản tập thơ riêng nào, nhưng số lượng thơ mà anh sáng tác đã đến cả mấy trăm bài, thơ của Tuấn luôn phảng phất những sắc màu khác lạ. Khi Tuấn đi rồi, tôi ngồi đọc cả hai tập bản thảo thơ anh, và nhận ra nhiều bài thơ trong ấy chạm đến sự tử sinh, ly biệt theo cách của một cuộc xê dịch và giải thoát. Thơ ấy, như là sự dự cảm về một cuộc thiên di của người họa sĩ, thi sĩ ấy!

"Từ trong thớ gỗ" là một tập thơ mang những phát hiện và chiêm nghiệm của người thơ đã bắt đầu có sự đốn ngộ để chạm đến những tầng thức mới trong cõi chữ của mình. Thơ Nguyễn Văn Tuấn đa diện, đa chiều, câu chữ hàm ngôn, ám gợi, tư tưởng thơ đọng lại ở sự quyết liệt và tận hiến cho những gì thuộc về bản thể của cõi người. Mở một cung Tết được kích hoạt bằng sự tinh tế kỳ diệu của mùa xuân:

Những ký tự chồi non bừng thức/ Những nhụy hoa chấp chới gió mơn/ Mưa lún phún dậy thì phơi phới/ Đất chuyển mình hòa nhịp trời cao/ Nhân gian rùng mình xóa nợ/ Những trắng đen được mất đón giao thừa/ Vò rượu mạnh bên mái nhà gianh cũ/ Ánh đèn dầu bùng cháy thuở xưa/ Làn khói bếp bây giờ còn ngái/ Chúng mình chúc nhau bằng ký tự lên men (Kích hoạt).

Cái cách lập ngôn ấy, đã hứa hẹn những tìm tòi mới mẻ trong ngôn ngữ thơ. Thơ ấy sống bằng sự lay gợi, thơ ấy tiếp cận và đưa những cung bậc cảm xúc của con người, hòa nhập vào tự nhiên ở những chiêu thức mới:

Trăng đêm nay nóng lạnh/ Gió đêm nay non mềm/ Những hàng cây làm mẫu/ Đứng khỏa thân cho lũ chim ngủ mê/…/…/ Em đòng đòng mẩy quá/ Uống gió hân hoan/ Thơm mùi đa đoan/ Hẹn ngày căng sữa/ Hẹn ngày giáp hạt/ Em ta mắt môi giáp hạt/ Ta giáp hạt/ Đêm giáp hạt bình minh/ Sớm mai người cắt cỏ/ Nhặt lên những chiếc khuy… (Giáp hạt).

Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Văn Tuấn có nhiều câu chữ được lạ hóa để tạo nên những đơn vị ngôn ngữ có sức gợi mở mới, khiến những thi ảnh quen thuộc được nâng tải lên một tầng nghĩa mới: Thời gian đi qua…/ Ba mươi mùa lá thức/ Lá vẫn xanh, sợi tóc vẫn xanh/ Trời kia điểm bạc/ Sợi tóc đã hóa dòng Nhuệ Giang/ Ta ngụp lặn/ Giặt lại chính mình/ Giặt mùi phố thị (Sợi tóc ta say).

Có thể nói ý thức sáng tạo đã dựng thành một hệ thống ngôn ngữ thơ trong sáng tác của anh! Thơ ấy là kết quả của sự lao động nghệ thuật từ tư duy, chứ không phải là những câu chữ ngẫu hứng, được mặc sức sinh ra từ cảm xúc: Cởi trần ngực núi/ Cởi trần mắt ai…/…/… Rượu Bắc Hà nghiêng mây/ Nghiêng cạp váy/ Ta uống em say/ Ta uống cho mây đầy ngực/ Uống cho thung lũng phì nhiêu/ Uống cho con suối róc rách/ Ta dốc ngược Bắc Hà trong nhau (Bắc Hà nghiêng mây).

Đọc thơ là lúc chúng ta được dự khán những cuộc lập ngôi của câu chữ, bởi vậy nó tuyệt nhiên không thể là những câu chữ dễ dãi, mà không ít người viết đã sử dụng để lắp đặt cho đủ số lượng, vần điệu, nhịp mạch của một thể thức thơ nào đó. Người làm thơ là người viết ra những gì anh ta nghĩ, anh ta tư duy về cái anh ta đã thấy trong cuộc sống, thơ ấy mới là thơ của trí tuệ, của tư tưởng, đó là cái đích đến của thi ca muôn thuở: Sớm nay cơn mưa tư duy/ Thẩm thấu vào sỏi đá…/…/… Ta ngồi thiền quá khứ/ Ta vặn ngược hồng cầu/ Trở về một thời loa kèn trắng/ Thổi vào nhau những giai điệu nhiệm màu (Vặn ngược hồng cầu).

Đọc thơ Nguyễn Văn Tuấn qua hai tập thơ này, thấy rất nhiều câu chữ tự lập ngôi vị của mình bằng sự mới lạ, bằng một tư duy thơ khá độc đáo:

Những con chữ giao hoan/ Những con chữ tha hồ đẻ trứng/ Ngày tiếp ngày đong sấp ngửa bày ra/ Lộ rõ những mặt người trăm vạn thể (Thả vía Facebook).

image002.jpg -1
Bìa 2 tập thơ mới của họa sĩ Nguyễn Văn Tuấn.

Tiếc thế, nhiều năm qua những trang thơ của họa sĩ điêu khắc Nguyễn Văn Tuấn đã thầm lặng một hành trình thơ tản mạn trong cõi thế, vừa mới chọn được duyên để xuất bản và khởi động một hành trình mới, thì người thơ đã vội vã phiêu du miền mây trắng. Người thơ đã ra đi, để lại những khoảng trống hun hút, những dở dang tiếc nuối từ bạn bè và người đọc phía sau câu chữ ấy!

Trong khoảng vài năm trở lại đây, đọc những sáng tác của Tuấn, thấy anh đề cập và lý giải chuyện sinh tử, chuyện "ra đi" với tần suất khá nhiều, có vẻ như thơ đã dự cảm được cuộc thiên di lớn nhất của đời anh: Nếu một mai anh đi xa/ Em đừng buồn đừng rơi nước mắt/ Mỗi khi hoàng hôn vụt tắt/ Em lặng ngồi trên nấm mộ xanh/…/ Xin run rẩy suối nguồn mát ngọt/ Để âm thầm anh uống những giọt em (Những giọt em).

Họa sĩ Nguyễn Văn Tuấn đột ngột rời cõi tạm trong lúc đang ngủ, do đột quỵ lúc 2h sáng ngày 1/4/2024. Sự ra đi của anh khiến nhiều bạn văn, bạn vẽ của anh cảm thấy sốc, nhưng giờ đây, khi ngồi đọc thơ Tuấn thì tôi ngạc nhiên, bởi cả cái sự đột ngột giã từ cõi thế và cái cách "ra đi" của anh cũng đã nằm phục sẵn trong bài thơ "Tái sinh" anh viết từ năm 2018: Chẳng còn giọt nào để sống trong tình này/ Tim đột tử xuống Diêm Vương phán xử/ Cân tội tình nhân gian thế sự/ Diêm Vương phán tội chung tình/ Chuyển sang gặp Mạnh Bà/ Ăn bát cháo lú/ Qua cầu Nại Hà/ Tái sinh… (Tái sinh).

Sự chết trong thơ Tuấn không nặng nề, bi lụy bởi cách lập ngôn của anh, phải chăng những câu thơ dự cảm này, muốn người ở lại đỡ đau, đỡ nghẹn trước khi người thơ ấy rời bỏ thế gian này: Ký ức về trên khói thuốc/ Ta đóng đinh bên ly cà phê/ Ta đếm giọt/ Giọt này cho mắt em/ Giọt này cho tim anh/ Giọt này cho những ngày xa/ Giọt này cho bài thơ hóa kiếp… (Mùa thu chịu tang).

Ấn phẩm "Từ trong thớ gỗ" được tạo nên bởi những câu chữ thiên về những sự ngộ giải của kiếp người trong cõi tạm. Còn tập "Cởi áo mùa yêu" là một tập thơ tình, vậy mà người đọc cũng gặp rất nhiều câu thơ tiếp cận cõi tử của Tuấn, thơ ấy anh viết như anh đã từng đến, đã tiếp cận với cõi tử ấy: Đôi bờ bỉ ngạn trổ hoa/ Vong Xuyên sông thắm máu nhòa tình ai/ Mạnh Bà canh dứt tình dài/ Nại Hà ai đợi sương phai mịt mùng (Bỉ Ngạn).

Thơ Tuấn đan xen rất nhiều cung bậc, có những cung chữ ám gợi và dẫn động, lại có những cung bậc dịu dàng như hương đồng gió nội, vô tư gieo trổ vào một cuộc phù sinh: Tháng Tư về ngang ngõ/ Trải nắng vàng non tơ/ Ô kìa gió ngủ nướng/ Để mây hồng ngẩn ngơ…/…/… Em như hoa đồng nội/ Nở trong đáy mắt anh/ Nồng nàn và dịu mát/ Ươm tình ta mãi xanh (Tháng Tư về). Đôi chỗ, thơ Tuấn nền nã, dịu mềm trong một vuông cổ tích, cái mềm dịu mang màu nho nhã của một văn nhân:

Mưa bay rắc bụi mưa ơi/ Gió non nhắn nhủ những lời cỏ hoa/ Mực Tàu, giấy đỏ giao thoa/ Văn chương khai bút, thơ hòa vào xuân (Vào xuân).

Họa sĩ Nguyễn Văn Tuấn là người làm chuyên sâu về tượng thờ và phù điêu cho nhiều công trình văn hóa tâm linh, tác phẩm của anh đã được giới chuyên môn đánh giá cao. Những tác phẩm điêu khắc của Tuấn ấn tượng, rõ nét, chứa chất hồn vía các tầng văn hóa phương Đông, còn thơ của Tuấn thì đầy những bung mở, tìm tòi sáng tạo! Câu chữ thơ ấy được sinh ra từ góc nhìn và tư duy của một họa sĩ, đã làm nên cái nét riêng trong những trang thơ của anh!

Người họa sĩ, nghệ nhân điêu khắc, người thơ hào sảng ấy đã đi xa, căn nhà nơi anh ở tại xã Hồng Minh, huyện Phú Xuyên, Hà Nội vẫn còn đó ngổn ngang những sáng tạo dở dang của một người nghệ sĩ! Một trang đời đã khép lại, nhưng những trang thơ từ hai thi phẩm "Từ trong thớ gỗ" và "Cởi áo mùa yêu" của Nguyễn Văn Tuấn thì còn mãi mở ra cùng những buồn vui nơi thế cuộc này!

Hà Nội, 4/2024

Nguyễn Thế Kiên

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.