Họa sĩ, Nhà giáo Ưu tú Đoàn Văn Nguyên: Sự tĩnh lặng nguyên thủy

Lứa sinh viên Mỹ thuật những năm 80 của thế kỉ trước thường hay trầm trồ về một thế hệ thầy giáo trẻ của trường - những người vừa buông áo lính để về với giảng đường, trong đó, họa sỹ Đoàn văn Nguyên.

Trong mắt các sinh viên, khi đó các họa sỹ - giảng viên này quả thực là những thần tượng, bởi họ là những họa sỹ được đào tạo bài bản của trường Mỹ thuật Việt Nam, là những họa sĩ trẻ đầy ắp khát khao sáng tạo, đổi mới. Và chính các thầy giáo họa sĩ trẻ năng động này cũng là những trung tâm năng lượng truyền cảm hứng học tập và sáng tạo cho sinh viên.

Sự tận tụy trong công việc giảng dạy, thái độ lao động nghệ thuật cần mẫn của nhà giáo - họa sĩ Đoàn Văn Nguyên đã ảnh hưởng tích cực không nhỏ đến nhiều thế hệ học trò mà ông là người trực tiếp giảng dạy. Họa sĩ Nguyễn Quốc  Huy, một học trò của ông đã  nói rằng anh học được ở thầy mình lòng yêu nghề và cách làm việc, sự theo đuổi thủy chung với nghệ thuật. Thầy đã truyền cho anh một sự kiên trì say mê hiếm có đối với nghệ thuật. Anh chia sẻ: "Thầy tỉ mỉ thận trọng từ khâu phác thảo, trong quá trình hoàn thành tác phẩm cũng không ngại sửa chữa, đó là những bước mà có lẽ các họa sĩ trẻ phần nào còn coi nhẹ".

Họa sỹ, nhà giáo Ưu tú Đoàn Văn Nguyên bên bức tranh "Nhà thơ thôn ca Đoàn Văn Cừ”.
Họa sỹ, nhà giáo Ưu tú Đoàn Văn Nguyên bên bức tranh "Nhà thơ thôn ca Đoàn Văn Cừ”.

Năm 1961, họa sĩ  Đoàn Văn Nguyên được cha là nhà thơ Đoàn Văn Cừ - một tâm hồn thi sĩ yêu hội họa gửi gắm lên Hà Nội để học Mỹ thuật. Ông vào học lớp Trung cấp 7 năm (1961-1968), đây là một khóa học có nhiều họa sĩ nổi tiếng như Thành Chương, Đào Minh Tri, Lò An Quang, Nguyễn Thanh Châu, Lý Trực Sơn, Lê Trí Dũng, Tạ Phương Thảo, Trương Mai San….

Kết quả học xuất sắc, ông được giữ lại trường. Từ năm 1968- 1972, ông là giảng viên khoa Hội họa hệ Trung cấp - Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội. Năm 1972, cuộc chiến tranh càng ngày càng ác liệt, các sinh viên được dộng viên nhập ngũ. Họa sĩ Đoàn Văn Nguyên cùng các bạn học như Triệu Khắc Lễ, Lê Khắc Cường nhập ngũ bổ sung cho chiến trường khu V.

Sau năm 1975, đất nước giải phóng, ông quay trở về tiếp tục học tiếp Đại học, học chuyên khoa Sơn mài và được thọ giáo với các họa sĩ như Văn Bình, Trần Đình Thọ… Tốt nghiệp xuất sắc năm 1978, ông được giữ lại trường làm công tác giảng dạy và từ 1990 chính thức hướng dẫn sinh viên học chất liệu sơn mài.

Môt cái duyên mà từ đó họa sĩ Đoàn Văn Nguyên quyết định gắn kết cả cuộc đời sáng tạo của ông với sơn mài là: Năm 1976, đang học năm thứ tư Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội thì bức tranh chuyên khoa sơn mài "Tổ lao động Xã hội chủ nghĩa" kích thước 60x90 chỉ với trứng và bạc của ông đã được chọn đi triển lãm quốc tế cùng những họa sĩ bậc thầy như Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm, Văn Bình, Trần Văn Cẩn…Với một sinh viên mà có tác phẩm cùng đi dự triển lãm với các bậc thầy nổi tiếng trong hội họa, với  Đoàn Văn Nguyên đó là việc khó tưởng tượng, nó là một giấc mơ kỳ vĩ nhất...

Năm 2007, ông nghỉ hưu sau gần 30 năm giảng dạy, với khoảng 14.500 giờ lên lớp về chuyên ngành sơn mài, có thể nói ông là một trong những nhà giáo có số giờ giảng cao nhất về sơn mài hiện nay. Ông được Nhà nước tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú cho tình yêu công việc thường ngày của mình.

Nghệ thuật Sơn mài cũng đem lại cho ông rất nhiều các thành công trong nghề nghiệp. Từ những giải cao của Triển lãm Mỹ thuật Toàn Quốc; Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc về đề tài Lực lượng vũ trang và Chiến tranh cách mạng; Triển lãm chào mừng 990 năm Thăng Long - Hà Nội. Đúng dịp ông về hưu,  năm 2007, hoạ sĩ Đoàn Văn Nguyên đã được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật.

Năm nay, vào  tuổi  ngoài  thất thập,  họa sĩ - nhà giáo Đoàn Văn Nguyên  trưng bày những bức tranh sơn mài của mình, được sáng tác trong vòng 30 năm trở lại đây. Triển lãm được  mang tên "Nước thời gian" với 62 tác phẩm đã được chọn lọc. 

Trong bản tự bạch ông tâm sự rằng: "Tranh sơn mài thời gian càng lâu càng mới" như nước thời gian gột rửa hết tạp chất, bụi trần để lại những mầu vàng son lộng lẫy, sâu thẳm diệu kì. Lấy cảm hững từ câu thơ của nhà thơ "Thôn ca" Đoàn văn Cừ trong bài "Chợ Tết" nổi tiếng thời thơ mới:

"Bà Cụ lão bán hàng bên miếu cổ
Nước thời gian gội tóc trắng phau phau
"

Họa sĩ lấy tên "Nước thời gian" cho triển lãm, sáng tác trong nhiều chục năm  của mình…".

Sáu mươi hai bức tranh  trong triển lãm cho người xem thấy  sự  nhuần nhuyễn về  kĩ thuật, sự chắc chắn, giản dị trong bố cục và ấm áp, đôn hậu trong màu sắc của  họa sĩ Đoàn Văn Nguyên. Người xem có thể coi đây là một cuộc triển lãm tổng kết những kết quả mà họa sĩ  - nhà giáo Đoàn Văn Nguyên đã thu lượm được trong gần 40 năm sáng tạo của ông.

"… Làm tranh phải làm tốt ở phác thảo, để có kích thước, bố cục, rồi can lên mặt vóc. Nếu vẽ tỉa, vẽ kĩ rồi nghiên cứu, khi chuyển sang sáng tác tranh lại phải biết đơn giản, giữ lại cốt yếu, những chi tiết cần thiết trong mảng lớn. Làm tranh không phải chép lại hay phóng to tài liệu. Cái quan trọng là tìm cái đẹp, làm rõ ý đồ sáng tác của mình…". Đây là câu nói với học trò của danh họa Nguyễn Gia Trí - câu nói này có lẽ rất hợp để làm kim chỉ nam cho công việc sáng tác của họa sĩ  - nhà giáo Đoàn Văn Nguyên.

Những đề tài trong tranh của ông, từ cuộc sống sinh hoạt ở Tây Nguyên - một đề tài gắn với ông thành hỗn danh "Toàn Tây Nguyên" - đến  phong cảnh chợ quê, thiếu nữ khỏa thân, buổi tối bên hồ Gươm đến "Chợ tết" đều được ông thể hiện với một tinh thần lao động nghiêm túc, chỉn chu. 

Tác phẩm “Dưới trăng”.
Tác phẩm “Dưới trăng”.

Tranh sơn mài của ông với tông màu chính được chuyển từ đen, đỏ, vàng của giai đoạn những năm 80- 90, cho đến gam màu trung tính vàng đất, xanh non của những tác phẩm gần đây. Ông bằng lòng với những sắc độ đều và hơi chói, với những đối chọi vừa đủ.

Cảm giác khi đứng trước các bức tranh của ông trong triển lãm này của người xem - đó là sự tĩnh lặng, giống như  những chuyển động được con mắt hội họa của ông chụp lại và lưu giữ, nó chỉ còn động tác. Sự tĩnh lặng trong tranh ông  nằm trong nhịp chuyển động vừa phải được tạo bởi sự chủ động sắp xếp mảng miếng.

Có lẽ với Đoàn Văn Nguyên, ngoài cái đẹp của sơn mài, ông không còn sự quan tâm nào khác, kể cả  tiền bạc. Trong buổi khai trương triển lãm "Nước thời gian", họa sĩ Đoàn Văn Nguyên chia sẻ: "Tôi không mở triển lãm để bán tranh. Đây là cuộc chơi vì nghệ thuật, người sưu tập và khán giả nếu đồng cảm thì mua. Không bán được bức nào cũng không sao cả".

Người xưa nói tranh là người …Họa sĩ - nhà  giáo Đoàn Văn Nguyên ngoài đời là một người giản dị, đôn hậu, có lẽ mấy chục năm sống nơi phố thị cũng chả phai nhạt được cái chất thôn dã, quê kiểng của ông.  Con người ông chịu  sự giáo dục cổ điển của gia đình, sự mực thước của công việc nhà giáo, sự  nghiêm trang của công tác Đảng, sự chung thủy với gia đình … tất cả tạo nên những nét đặc trưng trong sáng tác của ông. Có lẽ điều này là ưu điểm chính trong sáng tạo của họa sĩ  nhưng nó cũng là lực cản sáng tạo với chính họa sĩ.

Vâng, nhà giáo - họa sĩ Đoàn Văn Nguyên  và thế hệ của ông đã học tập, chiến đấu và sáng tạo với những mục tiêu to lớn. Nhưng phải khẳng định, cả cuộc đời mình ông đã tận hiến cho nghệ thuật và làm tốt vai trò của một "người lái đò",  chuyển tiếp tình yêu nghệ thuật truyền thống của dân tộc - sơn mài - cho thế hệ họa sĩ ngày nay.

11/2019.

Tô Chiêm

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.