Họa sĩ, Đạo diễn, NSND Ngô Mạnh Lân: Một đời sống đẹp

Mùa thu này, sự ra đi của Họa sĩ, Đạo diễn, NSND Ngô Mạnh Lân - người được ví như "Cây đại thụ" của Hoạt hình Việt Nam,"Nghệ sĩ của tuổi thơ"... đã để lại tiếc thương khôn nguôi cho người thân, đồng nghiệp, học trò và đông đảo công chúng. Người nghệ sĩ với gương mặt hiền hậu, tính cách hóm hỉnh, trái tim nồng ấm yêu thương đã rời xa cõi tạm nhưng tấm gương lao động hết mình cùng gia tài nghệ thuật đồ sộ, giá trị ở nhiều lĩnh vực mà ông để lại cho mai sau thực vô cùng  đáng trân quý.

NSND Ngô Mạnh Lân có một sự nghiệp điện ảnh lẫy lừng với vai trò là một trong những người đặt nền móng cho phim hoạt hình Việt Nam. Đến với hội họa từ năm 15 tuổi, ông tham gia khóa học đầu tiên của Trường Mỹ thuật Việt Nam ở chiến khu Việt Bắc do danh họa Tô Ngọc Vân phụ trách.

Sau khi phục vụ quân đội, tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, ông được cử đi học Đạo diễn hoạt hình tại Trường Đại học Điện ảnh Quốc gia Liên Xô (VGIK). Tốt nghiệp, ông được phân công về công tác tại Xưởng phim Hoạt họa - Búp bê (Nay là Hãng phim Hoạt hình Việt Nam). Vượt qua muôn vàn khó khăn của những ngày đầu như không có giấy kính trong suốt chuyên dụng, phải dùng giấy pơ luya, để có được một bộ phim dài 10 phút, các họa sĩ phải vẽ tới gần 15.000 hình vẽ và tô màu thủ công, ông cùng những đồng nghiệp như NSND Lê Minh Hiền, đạo diễn, họa sĩ Trương Qua... tạo nên những dấu mốc đáng tự hào cho nghệ thuật hoạt hình Việt Nam.

nsnd ngô mạnh lân bên người bạn đời nsnd ngọc lan.jpg -0
NSND Ngô Mạnh Lân cùng vợ - NSND Ngọc Lan.

Trong sự nghiệp điện ảnh, NSND Ngô Mạnh Lân đã ghi dấu ấn với 17 bộ phim ở vai trò đạo diễn, 5 phim ở vai trò họa sĩ. Những bộ phim của ông đã góp phần nuôi dưỡng tâm hồn bao thế hệ thiếu nhi Việt Nam, đắp xây cho các em những giấc mơ trong lành, thánh thiện. Tình yêu trẻ em, tâm hồn ấm áp yêu thương được ông gửi gắm vào những bộ phim như "Con sáo biết nói", "Những chiếc áo ấm", "Chuyện ông Gióng", "Thạch Sanh"... Phim của NSND Ngô Mạnh Lân hấp dẫn, dí dỏm, hồn hậu, mang đến sự đồng cảm sâu sắc với khán giả, thích thú cho trẻ em.

Bên cạnh sự yêu mến của khán giả, cống hiến của ông đã được ghi nhận bằng những giải thưởng chuyên môn cao quý như 3 giải "Bông sen vàng", 4 giải "Bông sen bạc" và nhiều bằng khen tại các kỳ Liên hoan phim (LHP) Việt Nam. Ngoài ra là một số giải thưởng quốc tế như giải "Bồ nông bạc" tại LHP Hoạt hình quốc tế ở Mamaia (Romani, 1965), Bằng khen tại LHP Châu Á ở Frankfurt (CHLB Đức, 1967), Bằng khen tại LHP Quốc tế Moscow (1971)... Ông cũng là một trong số ít nghệ sĩ điện ảnh Việt Nam có mặt trong Bách khoa toàn thư Điện ảnh Liên Xô.

Không chỉ là "cha đẻ" của những bộ phim hoạt hình nổi tiếng, NSND Ngô Mạnh Lân cũng chính là người đề xuất chuyển từ gọi là "Phim hoạt họa" sang "Phim hoạt hình". Năm 1977, khi cùng nhà biên kịch Trần Ngọc Thanh ra mắt cuốn "Phim hoạt họa Việt Nam", ông đã đề xuất không gọi là "Hoạt họa" mà gọi là "Hoạt hình". Ông lý giải: "Họa là vẽ, hoạt họa chỉ là vẽ chuyển động. Mà nếu chỉ là hình vẽ thôi thì không đúng, bởi búp bê, giấy trổ thì không phải là hình vẽ. Cái ấm, hòn sỏi đều có thể trở thành nhân vật được... nên tôi đề xuất gọi là Hoạt hình". Đề xuất này của ông được hãng chấp nhận và từ đó đến nay trở thành tên gọi cho dòng phim đặc biệt này.

Trong cuộc đời mình, NSND Ngô Mạnh Lân không chỉ để lại khối lượng phim quý giá mà còn để lại dấu ấn của một người Thầy nhiệt tình, tâm huyết với các thế hệ học trò. Học trò của ông, sau này nhiều người đã trở thành những nghệ sĩ tên tuổi "nối bước cha anh" tiếp tục cống hiến cho hoạt hình Việt Nam như NSND Phạm Minh Trí, NSND Nguyễn Hà Bắc, NSND Phạm Ngọc Tuấn... Nhớ tới ông, cùng với niềm xúc động, các thế hệ học trò đều biết ơn một người thầy nghiêm khắc trong lao động sáng tạo nhưng vô cùng giản dị, dễ gần và tinh tế trong cuộc sống đời thường.

Bên cạnh sự nghiệp điện ảnh, NSND Ngô Mạnh Lân còn có một sự nghiệp hội họa đáng tự hào. Với ông, nếu như hoạt hình là tình yêu lớn thì hội họa là tình yêu đầu tiên và ở lại sau cùng. Những nét vẽ đã theo ông từ khi còn là cậu bé ở làng Tó (Tả Thanh Oai, Hà Đông) nằm trên chõng tre sân nhà say sưa ngắm mây trời, tưởng tượng ra đủ hình thù chuyển động đến khi bạc trắng mái đầu. Hội họa cho ông cảm giác được trở về với những cảm xúc chân thực tinh tế thẳm sâu trong chính con người mình.

Là người minh họa cho nhiều cuốn sách thiếu nhi nổi tiếng: "Cái tết của Mèo con", "Dế mèn phiêu phưu ký", "Đám cưới chuột", "Bộ quần áo của hoàng đế", "100 truyện cổ tích Việt Nam"... họa sĩ Ngô Mạnh Lân chinh phục được nhiều thế hệ trẻ em thông qua những nét vẽ sinh động, hấp dẫn đầy màu sắc. Riêng tác phẩm "Dế mèn phiêu lưu ký", ông lập kỷ lục vẽ tới 4 lần, từ lần đầu tiên ở Liên Xô và khi về nước cho các nhà xuất bản.

Với 4 triển lãm cá nhân, đặc biệt ở triển lãm tranh ký họa "Nét thời gian" (năm 2019) khi ông tròn 85 tuổi với hơn 250 bức ký họa đã cho thấy năng lực sáng tạo đáng ngưỡng mộ của họa sĩ Ngô Mạnh Lân ở lĩnh vực này. Như một cuốn album bằng hội họa, "Nét thời gian" là minh chứng cho sức lao động miệt mài và nghiêm túc của họa sĩ Ngô Mạnh Lân từ bức vẽ đầu tiên dưới mái trường nghệ thuật thời kháng chiến đến những quãng đời sau này.

Ở lĩnh vực nghệ thuật tạo hình, họa sĩ Ngô Mạnh Lân cũng giành nhiều giải thưởng cao quý như giải A Triển lãm đồ họa - Hội Nghệ sĩ tạo hình, Giải quốc gia về minh họa sách thiếu nhi, 2 giải nhất và 2 giải nhì về Triển lãm áp phích. Như nhà phê bình mỹ thuật Quang Việt đánh giá: "Bút pháp của ông cũng thực phong phú, giàu có như thiên nhiên và cuộc sống, khi trữ tình, khi đậm chất sử thi, khi mạnh mẽ dứt khoát, táo bạo, khi lại nhẹ nhàng, uyển chuyển... cân bằng giữa tính xác thực của khoa học hàn lâm và biểu cảm".

Sinh năm 1934 tại Làng Tó, Tả Thanh Oai, Hà Đông (nay là huyện Thanh Trì, Hà Nội), rời nhà khi chỉ 15 tuổi để tham gia Lớp Hội họa của Liên khu X đến khi rời xa cõi tạm, NSND Ngô Mạnh Lân đã có hơn 70 năm cần mẫn cống hiến cho nghệ thuật. Như ông từng chia sẻ: "Tôi không chỉ yêu trẻ em mà còn yêu nghệ thuật dân gian của nước ta. Ví như tranh dân gian Đông Hồ, đó là kho tàng rất quý và mình có thể tiếp cận được. Không chỉ là chuyện chất liệu giấy điệp mà còn về cách tư duy nghệ thuật với đường nét rất rõ ràng, chính xác, mảng màu tươi vui".

Những tác phẩm của NSND Ngô Mạnh Lân dù ở lĩnh vực điện ảnh hay hội họa đều chứa đựng cái nhìn ấm áp, thấm đẫm tình yêu cuộc sống, như lời Giáo sư Trần Văn Cấn: "Ngô Mạnh Lân yêu đất nước, con người, yêu nghề, yêu cuộc sống, có ý thức trân trọng tìm hiểu nghệ thuật cổ truyền độc đáo của dân tộc".

Không chỉ là người có nhiều đóng góp cho nghệ thuật ở nhiều lĩnh vực, NSND Ngô Mạnh Lân cùng người bạn đời của mình, NSND Ngọc Lan còn dệt nên một câu chuyện tình yêu đẹp như mơ giữa đời thường. Cuộc gặp gỡ duyên mệnh ở Liên Xô giữa chàng sinh viên Trường Điện ảnh và cô diễn viên trẻ tài năng tham gia LHP ngày ấy đã là khởi đầu của một mối nhân duyên bền chặt.

Cuộc hôn nhân của hai người nghệ sĩ luôn song hành cùng tình yêu nghệ thuật cháy bỏng chưa khi nào vì đó mà vơi nồng ấm. Trái lại, tình yêu, sự thấu hiểu và luôn ủng hộ đã là điểm tựa để họ không ngừng cùng nhau tận hiến cho nghệ thuật. Và rồi tình yêu nghệ thuật nồng nàn ấy còn truyền lại cho các thế hệ mai sau để đến hôm nay, gia đình NSND Ngô Mạnh Lân là một trong số ít gia đình có 3 thế hệ cùng làm điện ảnh.

Là nghệ sĩ nổi tiếng nhưng NSND Ngô Mạnh Lân luôn mang đến ấn tượng với  người tiếp xúc là sự hồn hậu, ấm áp, giản dị và khiêm tốn trong từng câu chuyện. Cách đây hơn 10 năm, người viết may mắn được tới trò chuyện với vợ chồng NSND Ngô Mạnh Lân trong căn nhà đầy ắp những kỷ niệm của cuộc đời làm nghệ thuật của ông bà trên đường Hoàng Hoa Thám. Ấn tượng với tôi khi ấy không chỉ là những kỷ niệm sắt son của một thế hệ nghệ sĩ vượt mọi khó khăn để làm nghệ thuật mà còn là câu chuyện tình yêu diệu kỳ như trên màn ảnh và cách ông bà chăm sóc, quấn quýt bên nhau trong hạnh phúc đời thường.

Đó là chứng kiến bà ân cần vắt nước cam cho ông, còn ông thong thả vẽ tranh hay cách ông nhìn bà trìu mến khi nhắc lại một kỷ niệm nào đó. Họ đã bên nhau suốt những năm tháng đầu xanh cho tới ngày đầu bạc. Từ thuở ông bà say mê với những dự án phim của mình cho đến khi cùng nhau cảm nhận trái ngọt hạnh phúc. Công chúng thường xuyên gặp ông bà tay trong tay mỉm cười mãn nguyện ở triển lãm tranh của ông, trong đêm thơ của bà hay tại buổi chiếu ra mắt bộ phim của cháu trai yêu quý...

Với tôi, sau những tâm sự về chuyện nghề, ông bà chưa khi nào quên hỏi thăm, chia sẻ về cuộc sống, gia đình. Lúc về, bao giờ cũng được ông bà gửi quà cho các bạn nhỏ. Khi là tập truyện có tranh minh họa của ông; tập thơ của bà mới ra mắt hay chùm khế chín trong vườn... Cách đây 2 năm, tôi đã không khỏi bất ngờ và xúc động khi nhận được điện thoại của ông thông báo về triển lãm "Nét thời gian". Ở tuổi 85, trước khi triển lãm khai mạc, ông vẫn chu đáo đích thân gọi điện cho mọi người, đến sớm cùng Ban tổ chức chỉnh lại vị trí các bức tranh, ký sách tặng...

NSND Ngô Mạnh Lân rời cõi tạm vào một ngày thu trời xanh, mây trắng. Nhưng tôi tin, ở một nơi nào đó, ông đang mỉm cười hiền hậu và thật nhẹ nhàng, thanh thản bởi cả cuộc đời, ông cống hiến hết mình để dành tặng cho đời những điều đẹp đẽ nhất.

Thảo Duyên

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.