Hậu vận buồn của nữ ca sỹ lừng danh một thời

Mặc dù tôi từng nghe láng máng rằng Khánh Vân - con chim sơn ca quá nổi tiếng sau khi hát bài ca trên của nhạc sỹ Văn Ký đã sớm kết thúc cuộc đời ca hát vì bị bệnh tâm thần, nhưng không hình dung đến mức như tôi chứng kiến hôm đó. Và tôi triền miên, chìm đắm vào ký ức đã lùi xa…

Tôi nhớ mãi một lần vào TP Hồ Chí Minh công tác, hình như cuối những năm 80 gì đó của thế kỷ trước, đang đi trên đường cùng một người bạn cũng là dân văn nghệ sống ở thành phố này, bỗng tôi nhìn thấy một người đàn bà đã đứng tuổi, trông rất tiều tụy đi lang thang, tóc rũ rượi, vừa đi vừa hát nghêu ngao. Rõ là một người thần kinh không bình thường, chính xác là bị tâm thần.

Người bạn hỏi tôi: "Anh có biết ai đó không?". Tôi chú ý đến câu hỏi. Bà ta hát chẳng rõ bài nào vì là một người tâm thần hát, nhưng có giọng, chứ không khàn khàn hoặc như "ống bơ gỉ".

Tôi chưa trả lời được thì người bạn nói: "Khánh Vân đấy. Anh là nhạc sỹ chắc phải biết chị ấy. Người đầu tiên hát "Bài ca hy vọng" làm say đắm hàng triệu trái tim một thời đó". Tôi bất giác kêu lên: "Trời ơi! Chị ấy giờ như thế này sao?".

Mặc dù tôi từng nghe láng máng rằng Khánh Vân - con chim sơn ca quá nổi tiếng sau khi hát bài ca trên của nhạc sỹ Văn Ký đã sớm kết thúc cuộc đời ca hát vì bị bệnh tâm thần, nhưng không hình dung đến mức như tôi chứng kiến hôm đó. Và tôi triền miên, chìm đắm vào ký ức đã lùi xa…

Những năm 1958-1959, tôi là một cậu bé rất mê âm nhạc, hay hát và hát cũng hay nên bất cứ bài hát nào vừa xuất hiện mà thấy hay là tìm học bằng được. Nhưng lại thích hát bài dành cho người lớn hơn là ca khúc thiếu nhi.

Ca sĩ Khánh Vân thời trẻ.
Ca sĩ Khánh Vân thời trẻ.

Khi đó, "Bài ca hy vọng" xuất hiện như một hiện tượng âm nhạc đặc biệt. Thể hiện bài này là một giọng nữ cao vút, rất trong sáng, giọng lảnh lót, vang như chuông, hát rất truyền cảm, có hồn. Có cảm giác người hát đã hát bằng tất cả trái tim cháy bỏng, tha thiết nhất của mình: "Từng đôi chim bay đi/ Tiếng ca rộn ràng/ Cánh chim xao xuyến/ gió mùa xuân…".

Sau đó, tôi được biết ca sỹ đó là Khánh Vân - một người quê ở miền Nam tập kết ra Bắc sau năm 1954, công tác ở Đoàn Ca múa nhân dân Trung ương (nay là Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam). Bài này về sau được thu vào đĩa (loại đĩa than to có hai tốc độ 33 và 45 chứ không phải đĩa compak như bây giờ). Tại tất cả các rạp chiếu bóng và biểu diễn sân khấu ngày đó, trước khi tắt đèn để bắt đầu mở màn, bao giờ những đĩa này cũng được mở.

Bài hát càng có dịp lan truyền khắp nơi và nổi tiếng đến mức nhanh chóng bay vào tận miền Nam, khiến các nữ tù nhân cách mạng trong ngục cũng thuộc và luôn hát để động viên nhau giữ vững ý chí, chiến thắng kẻ thù, trong đó có đồng chí Trương Mỹ Hoa - nguyên Phó Chủ tịch nước.

Tuy bài hát có giá trị tự thân nhưng không thể không nhắc đến tài năng của Khánh Vân. Nếu không phải chị hát lần đầu tiên, hẳn là bài hát khó có được đời sống rực rỡ như thế. Chính nhạc sỹ Văn Ký cũng phải công nhận điều này. Sau này, hầu như ca sỹ chuyên nghiệp nào muốn phát triển sự nghiệp cũng đều tìm đến "Bài ca hy vọng".

Tôi đã nghe nhiều ca sỹ nổi tiếng hát cũng hay nhưng nghe lại giọng Khánh Vân vẫn thấy rất đặc biệt, không thể có ở các ca sỹ khác. Đó là sự hồn nhiên, không chút màu mè, không vận dụng kỹ thuật thanh nhạc, rất rực lửa, cuốn người nghe vào nội dung tác phẩm, đồng cảm với cảm xúc của tác giả. Điều này ít thấy có ở những ca sỹ sau này, nhất là lớp trẻ ra đời sau năm 1975.

Có điều đặc biệt là sau bài này, tôi không thấy Khánh Vân đem đến công chúng một siêu phẩm nào tương tự như vậy nữa. Chính xác hơn là có thể chị cũng thu thanh thêm những bài khác, nhưng do tác phẩm không có gì đặc biệt mà không khiến công chúng lưu tâm. Người ta có cảm giác như sự nghiệp ca hát của chị sớm dừng bước so với các nữ ca sỹ khác cùng trang lứa.

Nhưng sự thật thì không phải đến lúc đó người ta mới biết đến Khánh Vân. Hồi còn sống ở Sài Gòn, chưa tham gia kháng chiến chống Pháp, chị từng hát bài "Tiếng còi trong sương đêm" của nhạc sỹ Hoàng Việt được nhiều người ưa thích.

Đến khi bước vào cuộc kháng chiến, chị càng được bà con Nam Bộ biết đến. Chị có tên thật là Trần Thị Nhu, theo cha vào Sài Gòn sinh sống, có giọng hát hay ngay từ khi còn nhỏ nên đến năm 15 tuổi đã nổi tiếng ở thành phố được coi là "hòn ngọc của Viễn Đông" này. Chị sớm tham gia phong trào yêu nước, đến năm 1946 khi mới 17 tuổi đã bị giặc Pháp bắt, tống giam vào Khám lớn, tại trại 14 dành cho nữ tù nhân. Khi chị xuất hiện, ai cũng cảm phục người con gái còn trẻ măng, có gương mặt rất hiền hậu đã sớm dâng hiến tuổi xuân cho cách mạng, bị tù đầy.

Chị nhận được sự đùm bọc, yêu thương của các nữ tù nhân khác đáng tuổi chị, tuổi mẹ mình. Trong tù, cô gái có giọng hát như chim sơn ca luôn rất yêu đời thường xuyên hát cho mọi người nghe mỗi khi họ yêu cầu. Cô cũng dạy mọi người nhiều bài. Có Khánh Vân, họ được an ủi nhiều và quên đi những ngày tháng cam go trong tù. Năm 1948, chị được trả tự do.

Ra tù, chị lại cùng với ca sỹ Quốc Hương đi hát phục vụ bà con ở khắp vùng Nam Bộ. Hồi đó, chị hay hát những bài như "Lá xanh", "Nhạc rừng", "Lên ngàn" của Hoàng Việt. Đi đến đâu, hai ca sỹ cũng được nhân dân và bộ đội rất yêu quý.

Mùa hè năm 1949, Khánh Vân vào làm việc trong Ban Ca nhạc Đài phát thanh Tiếng nói nhân dân Nam Bộ. Với giọng hát trời phú, chị đã hát tất cả các loại bài hát từ trữ tình đến vui nhộn, từ đơn ca đến tốp ca, lĩnh xướng… miễn sao phục vụ được nhân dân. Lúc này chị đã rất nổi tiếng ở Nam Bộ. Nhưng chị sống giản dị, vui vẻ, hòa đồng, sống hết mình vì công việc và đồng đội.

Ngoài việc tập luyện ca hát, thu thanh hoặc đi biểu diễn, chị đã tranh thủ thời gian lặn lội đi hái rau rừng và măng để giúp cải thiện bữa ăn cho mọi người giữa bưng biền Không ít lần, máy may địch đến ném bom ở chiến khu. Mọi người phải xuống hầm trú ẩn. Khánh Vân luôn mang theo văn bản các bài hát xuống hầm tranh thủ ôn, tập ở trong hầm.

Trong mọi hoàn cảnh gian khổ, có lúc tưởng cận kề cái chết nhưng chị luôn vui tươi, rất hay cười khiến đồng đội thấy ấm lòng. Một đồng chí lãnh đạo đã nói với anh em: "Ở đâu mà có Khánh Vân thì ở đó không cần phải có chính trị viên bởi cô ấy còn làm tốt hơn nhiều".

Quả là vị lãnh đạo nào đó đã rất hiểu sứ mạng cao cả của nghệ thuật, tác dụng lớn lao của văn nghệ. Chỉ bằng lời ca, tiếng hát và lối sống, Khánh Vân đã góp phần cổ vũ, động viên tinh thần mọi người vượt qua mọi khó khăn, gian khổ trong kháng chiến một cách rất hiệu quả. Hồi còn sống, Quốc Hương - một nghệ sỹ lớn - đã có lần nói về Khánh Vân đại ý: Chính ông cũng được động viên bằng cách sống rất lạc quan, yêu đời của cô ca sỹ nhỏ nhắn, yếu đuối, là lứa đàn em của mình.

Sau ngày lập lại hòa bình trên miền Bắc (1954), Khánh Vân biên chế trong Đoàn Văn công Nam Bộ tập kết ra Bắc, sau đó vào làm việc ở Đoàn Ca múa nhân dân Trung ương. Chị lại sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ, đi biểu diễn ở bất cứ đâu theo yêu cầu, thường xuyên cùng đoàn đến hát ở bờ sông Bến Hải, đầu bên này cầu Hiền Lương (Ngày đó chưa thống nhất đất nước, sông Bến Hải là giới tuyến tạm thời giữa hai miền Nam, Bắc. Ta thường tổ chức cho văn công hát ở bên này vọng sang bờ bên kia để bà con nghe).

Một trong những bài chị thường hát dịp này là "Câu hò bên bờ Hiền Lương" của Hoàng Hiệp. Về bài hát này, có lần chị được vào Phủ Chủ tịch hát cho Bác Hồ và một số đồng chí lãnh đạo khác nghe. Thấy chị nói giọng miền Nam, sau khi nghe chị hát, Bác nói: "Cháu phải tìm cách làm sao để hát được cho thật nhiều bà con miền Nam nghe bài này".

Trở lại cái lần tôi mục sở thị Khánh Vân đi lang thang ở Sài Gòn bữa ấy. Sau đó, người bạn của tôi kể rằng nữ nghệ sỹ tài danh có cuộc đời không may mắn. Chị có nỗi buồn không thể khỏa lấp trong chuyện riêng tư mới dẫn đến mắc bệnh tâm thần phải vào điều trị dài ngày trong bệnh viện.

Ra viện, chị vào nhà dưỡng lão vì không có người thân, ruột thịt. Cả đời chị sống cô đơn, chỉ biết tìm niềm vui trong ca hát. Nhưng vì đổ bệnh nên chị phải sớm dừng sự nghiệp. Chị qua đời năm 1993, hưởng thọ 64 tuổi.

Cuộc đời hoạt động và ca hát của Khánh Vân quả là đáng trân trọng.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.