Hạt nếp làng Gang

Bao thế hệ nay, người làng Gang ở xã Thụy Ninh, Thái Thụy, tỉnh Thái Bình luôn ngầm tự hào, kiêu hãnh khi được trời đất hào phóng ban tặng cho hai thứ di sản vô giá làm “của để dành” cho muôn đời con cháu. Ấy là tiếng hát chèo. Và giống lúa “Nếp cái hoa vàng”. Người xưa gọi nếp cái hoa vàng như xưng tên một nàng công chúa: “Nếp Hoàng hoa”.

“Bao giờ cho tới tháng Mười
Thổi nồi cơm nếp vừa cười vừa ăn”

(Ca dao)

Bao thế hệ nay, người làng Gang ở xã Thụy Ninh, Thái Thụy, tỉnh Thái Bình luôn ngầm tự hào, kiêu hãnh khi được trời đất hào phóng ban tặng cho hai thứ di sản vô giá làm “của để dành” cho muôn đời con cháu. Ấy là tiếng hát chèo. Và giống lúa “Nếp cái hoa vàng”. Người xưa gọi nếp cái hoa vàng như xưng tên một nàng công chúa: “Nếp Hoàng hoa”.

Lật mở  tác phẩm “Vân đài loại ngữ” của nhà bác học Lê Quý Đôn, thấy ông trân trọng xếp “Nếp hoàng hoa” vào hạng của quý nhất, nhì trong tất thảy 29 loại lúa nếp có mặt trên dải đất hình chữ S. Nhà bác học ấy đã có những dòng nhận xét có vẻ như không thể thú vị hơn, rằng: “Nếp Hoàng Hoa (Nếp Hoa vàng), lại gọi là nếp ả, cây to, hột nhiều, bông cao; hột lúa dẹp mà to vàng, hột gạo trắng, xôi mềm và thơm…”.

Người ta bảo, “cái anh” nếp cái hoa vàng đến với người làng Gang từ trước khi đức thủy tổ của dòng họ Lê Công, ngài Lê Cương Xuyên chính thức rời trang ấp vào kinh tham gia khoa thi hội. Kỳ thi tứ khoa Ất Mùi do nhà vua  Mạc Đăng Doanh tổ chức vào năm 1535, lấy Tiến sĩ. Khoa thi ấy, ngài Lê Cương Xuyên đã đỗ học vị: “Lê Triều Đệ Tam Giáp Đồng Tiến sĩ Xuất Thân!”. Như vậy, giống lúa nếp cái hoa vàng đã trở thành tri âm, tri kỷ với người làng Gang từ hơn 486 năm trời nay rồi còn gì?!

Cổng làng Gang.
Cổng làng Gang.

Cũng là đồng đất vùng châu thổ ấy. Cũng là hưởng chung nguồn phù sa mầu mỡ của con sông Hóa đó thôi, nhưng kỳ lạ sao, cả một vùng rộng lớn của huyện Thái Thụy (và các địa phương lân cận), lại chỉ riêng có làng Gang mới cấy được thứ nếp cái hoa vàng đạt chất lượng bậc nhất. Càng diệu kỳ hơn, khi làng Gang có tới cả chục khu cánh đồng mênh mông thẳng cánh cò bay, vậy nhưng, lại chỉ riêng duy nhất khu cánh “đồng sau” mới cho ra thứ gạo nếp cái hoa vàng “chuẩn không cần chỉnh”.

Đồng sau với diện tích xấp xỉ gần 5 ha, nằm liền khoảnh với đất làng; tiếp giáp với đồng cửa đình và đồng thần. Từ cổ chí kim, người làng Gang chưa hề làm cái việc kiểm tra độ pH trong đất của cánh đồng sau phì nhiêu ở cấp độ nào. Nhưng họ lại hiểu thiết kế địa tầng, địa mạo của cánh đồng sau của mình còn hơn cả lòng bàn tay.

Lớp trên cùng mặt ruộng là tầng đất phù sa trầm tích. Bên dưới nó tồn tại thứ đất thịt màu vàng như mỡ gà, nhưng pha cát ít nhiều, tạo nên sự tơi xốp đặc trưng có một không hai. Tầng cuối cùng là cát trước khi gặp thứ tạp chất tự nhiên thời nguyên thủy. Chỉ với kết cấu thổ nhưỡng đặc biệt đó, chất lượng gạo nếp cái hoa vàng của cánh đồng sau mới  là “anh cả” của mấy chục loại nếp khác nhau với cái tên chung chung mơ hồ: “nếp hương”. Người làng Gang tự hào và tự tin quả quyết như thế.

Thu hoạch xong vụ chiêm, người làng Gang háo hức bắt tay vào vụ mùa bằng việc gieo cấy “cái anh” nếp cái hoa vàng với một tâm thế xúc cảm đầy linh thiêng. Là giống lúa sinh ra hạt gạo dẻo thơm đặc trưng độc nhất vô nhị một thuở chỉ dùng để tiến vua cho nên, người làng Gang dành cho nếp cái hoa vàng một tình cảm đặc biệt ngay từ lúc gieo hạt mạ đầu tiên. Dẫu không hề có bất cứ một sự mặc định thành văn nào hết,  nhưng từ  “ngày xửa,… ngày xưa” cũng như  thời 4.0 bây giờ, người làng Gang chỉ duy trì phương pháp canh tác duy nhất với lúa nếp cái hoa vàng. Đó là phương pháp: Hữu cơ!

Những hạt nếp cái hoa vàng, bóng bẩy và mỡ màng hấp dẫn như nhộng ong.
Những hạt nếp cái hoa vàng, bóng bẩy và mỡ màng hấp dẫn như nhộng ong.

Đầu tháng Mười ta, lúc trời rót cái thứ nắng vàng nhàn nhạt và thông thống những làn gió hanh hao khô giá từ phương Bắc tràn về. Ấy cũng là  lúc bầy chim gáy thi nhau râm ran gọi bầy là cả một biển lúa nếp cái hoa vàng rực rỡ trên cánh đồng sau của làng Gang rũ bông trĩu nặng những hạt nếp lấp lánh ánh vàng căng tròn thây lẩy như trong cổ tích. Đấy chính là lúc những bông nếp cái hoa vàng rực rỡ âm thầm gửi đi một tín hiệu lạc quan: Lại một mùa Tết cơm mới thiêng liêng nữa lại về với người làng Gang.

Lúa vàng theo chân người từ cánh đồng sau về nhà, việc đầu tiên người làng Gang phải làm là tiến hành chọn giống dành cho vụ mùa sang năm. Việc này thường được giao cho người có kinh nghiệm chọn giống giỏi nhất gia đình. Trang trọng và đầy những tỉ mẩn, công phu, người ta lựa trong cả một đống lúa tươi khổng lồ còn vương mùi đồng đất và mùi ngai ngái đặc trưng của thứ rơm tươi những bông đạt tiêu chuẩn giá trị nhất để làm giống cho mùa sau.

Đã thành một lối ứng xử văn hóa mang tính truyền thống, người làng Gang dành cho hạt nếp cái hoa vàng một sự nâng niu, trân trọng hiếm thấy. Người ta không bao giờ dùng những hòn đá tròn, dài nặng tới vài chục ki - lô để lăn trục. Hoặc sử dụng những kẹp tre néo từng gồi lúa lại rồi vung cao đập thật mạnh xuống những chiếc cối đá cũng như bất cứ hành vi mang tính thô bạo nào với thứ nếp cái hoa vàng nhằm tách hạt của chúng ra khỏi bông.

Vẫn là từ thuở ông bà ông vải tới nay, để không “làm đau” cái hạt thóc vàng quý hiếm trời - đất ban tặng cho riêng mình, người làng Gang cẩn thận dùng đôi đũa ăn cơm kẹp vào từng bông lúa rồi nhẹ nhàng tuốt nhẹ một cái khiến những hạt thóc rời khỏi bông. Còn nếu không, người ta gom những bông lúa thành từng túm nhỏ như nắm tóc đuôi gà của cô thiếu nữ tuổi hoa hàm tiếu rồi thận trọng dùng chiếc bát ăn cơm cào nhẹ vào phần hạt thóc khiến chúng rời ra.

Những đêm trăng suông tháng Mười mặt đất trở nên lõa thể bởi thứ trăng vàng nhễ nhại. Và, sương giá giăng màn mờ ảo như cổ tích, trời đất se lạnh cữ thu hoạch lúa nếp cái hoa vàng ấy dẫu năm đó được mùa hay thất bát thì vẫn cứ là dịp vui tưng bừng nhất trong năm của người làng Gang. “Vui như Tết” vẫn là đám trẻ mới lớn chúng tôi.

Lúc người lớn mặt mày rạng rỡ hoan hỉ hăm hở đôn đáo tay năm tay mười với việc tuốt lúa, những cô những cậu học trò trường làng trong khi hồi hộp háo hức ngóng chờ mẻ cốm giòn tan thơm ngậy béo bùi kết tinh tinh túy của TRỜI - ĐẤT. Và kết tinh những giọt mồ hôi mặn chát cùng những lời thầm thì cầu mong trời yên biển lặng để tới tháng Mười được “thổi nồi cơm nếp vừa cười vừa ăn” của các đấng sinh thành, anh chị, đám “ranh con” chúng tôi tự nguyện xăng xái mang những cọng rơm từ trong nhà ra sân. Chẳng cần ai bày vẽ, đám trẻ phấn khích buộc những cọng rơm nếp cái hoa vàng ấy thành từng túm nhỏ.

Những túm rơm được dựng lên và tãi phần cuống ra sân theo kiểu gọng vó. Loáng một cái, cả một khoảng sân lớn với cơ man nào những túm rơm còn vương mùi đồng đất. Và rồi thoáng chốc, trong cái không gian ngập ngụa ánh trăng vàng và mờ ảo trong làn sương khói cổ tích của đêm tháng Mười huyền ảo, những túm rơm trông như những ngọn tháp vững chãi. Mà lại hao hao những túp lều tý hon của những cư dân miền châu thổ thuở hồng hoang. Lũ trẻ lau nhau phấn khích chọn những túp lều đẹp nhất làm nhà của mình. Và, chính từ cái túp lều rơm ấy, mà “Tôi sinh ra từ cọng rơm vàng” - (“Cọng rơm vàng” - Trịnh Thanh Sơn).

Chán chê với trò nhà cửa, đám trẻ nằm lăn ra bên cạnh những bó rơm vàng duỗi chân duỗi tay ngửa mặt mơ màng nhìn trăng; nhìn những làn sương khói hư thực giăng màn để tận hưởng niềm xúc cảm thiêng liêng đặc biệt: “…Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm/ Tôi thao thức trong hương mật ong của ruộng/ Trong hơi ấm nhiều hơn chăn đệm/ Của những cọng rơm xơ xác gầy gò…” - (“Hơi ấm ổ rơm” - Nguyễn Duy).

Với người làng Gang, “những cọng rơm vàng xơ xác gầy gò” còn là thứ nguyên liệu quý giá tạo nên những cây chổi lúa nhỏ to các kiểu. Không chỉ có vậy, cho rằng, là thứ rơm thanh sạch nhất trong tất cả các loại rơm, người làng Gang trịnh trọng đốt những cọng rơm nếp cái hoa vàng của mình để lấy tro cho vào lư lập nên nghững bát hương mới. Còn không,  dùng  tro ấy thay vào chỗ tro cũ trong các lư hương  dịp ông Công ông Táo. Và nữa, thứ tro ấy cũng được dùng cho những bát hương thờ tự nơi đình chùa, miếu mạo.

Mùa thu hoạch nếp cái hoa vàng cũng là mùa Tết cơm mới của người làng Gang. Nói là mùa là bởi người làng Gang không có lệ tổ chức Tết cơm mới vào ngày 10. 10 âm lịch hằng năm như thiên hạ. Người làng Gang tổ chức lễ đón Tết cơm mới theo điều kiện, hoàn cảnh của  riêng mỗi gia đình. Nhà nào phơi khô quạt sạch được “cái anh” nếp cái hoa vàng sớm thì thực hiện nghi lễ đón Tết cơm mới trước.

Những ngày tháng 10 đầy thương nhớ ấy, khắp làng Gang thơm mùi xôi nếp cái hoa vàng. Đấy là thứ hương vị vô cùng đặc trưng, chỉ riêng “cái anh” nếp cái hoa vàng mới tạo nên được mà không bút lực nào tả cho hết được. Thiên hạ một mực cho rằng, “cái anh” nếp cái hoa vàng làng Gang có “thương hiệu” đặc biệt như vậy chính là nhờ ĐẤT của cánh đồng sau.

Nói thế xem ra mới “đúng” chứ chưa phải “đủ”. Hạt nếp cái hoa vàng làng Gang trở nên trứ danh còn là ở cái lối ứng xử với đầy nhân văn của bà con nông dân nơi đây với một thứ di sản văn hóa vật thể vô giá mà bao đời cha ông chắt chiu để lại cho con cháu họ hôm nay, ngày mai, ấy vậy!.

Lê Công Hội

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.