Kỷ nệm 77 năm Cánh mạng tháng 8 và Quốc khánh 2/9

Hào khí những âm thanh

Sự kiện trọng đại long trời lở đất của Cách mạng Tháng 8/1945 đã được biểu hiện sinh động trong những bài hát hào hùng, tha thiết nhất, mang hơi thở nóng hổi của thời đại mà cho đến hôm nay và mãi về sau chắc chắn vẫn không phai mờ trong tâm khảm nhiều thế hệ người Việt ta.

Ra đời sớm nhất là bài hát “Cùng nhau đi hồng binh” của Đinh Nhu - một chiến sĩ cách mạng còn rất trẻ: “Cùng nhau đi hồng binh/ Đồng tâm ta đều bước/ Đừng cho quân thù thoát, ta quyết chí hy sinh…”. Nhiều người lầm tưởng bài này ra đời thời kỳ tiền khởi nghĩa. Nhưng không phải. Sự thực là Đinh Nhu viết bài này khi bị giam ở nhà tù Nghĩa Lộ vào năm 1930 khi vừa tròn 20 tuổi (ông sinh năm 1910).

Trong cao trào tiền khởi nghĩa của Mặt trận Việt Minh (1941 - 1945), xuất hiện hai nhạc sĩ Lưu Hữu Phước và nhạc sĩ Đỗ Nhuận gắn với những ca khúc thể hiện lòng yêu nước và ý chí chống xâm lăng sâu sắc, sục sôi.

Hào khí những âm thanh -0
Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước (1921-1989) và Nhạc sĩ Đỗ Nhuận (1922-1991) là hai tác giả nổi tiếng từ thời tiền khởi nghĩa.

Lưu Hữu Phước (1921-1989) được mặc định là nhạc sĩ của những bản hùng ca giải phóng. Ngay từ buổi đầu sự nghiệp, đã sớm cho ra đời ca khúc “Hành khúc sinh viên” (“La Marche des Étudiants”) với giai điệu hết sức trẻ trung, sôi động diễn tả khí phách, khát vọng giải phóng dân tộc của sinh viên nói riêng cũng như tuổi trẻ nói chung: “Này sinh viên ơi! Tiến lên đến ngày giải phóng/ Đồng lòng cùng nhau ra đi sá gì thân sống…”.

Bài này tác giả sáng tác cuối năm 1939 khi mới 18 tuổi. Lúc này nước ta đang ở vào cuối thời kỳ của Mặt trận dân chủ Đông Dương (1936-1939: Thời kỳ Đảng ta hoạt động công khai, thu được nhiều thành tựu lớn trong phong trào Cách mạng giải phóng dân tộc). Về sau, ông đổi tên là “Tiếng gọi thanh niên” cho thêm tính khái quát. Chính quyền của Bảo Đại và Ngô Đình Diệm sau đó đã tự ý sửa lại lời đôi chỗ để làm quốc ca nhưng không hỏi ý kiến tác giả.

Năm 1942, nhằm khích lệ lòng yêu nước của con dân nước Việt, Lưu Hữu Phước sáng tác bài “Hát giang trường hận” để tưởng niệm hương hồn hai nữ anh hùng dân tộc là Hai Bà Trưng. Ta biết rằng hai bà sau khi khởi nghĩa chống giặc thất bại, đã cùng tuẫn tiết ở sông Hát (huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây cũ vào năm 43). Bài hát về sau đổi thành “Hồn tử sĩ” có những lời lẽ bắt đầu thật thống thiết: “Đêm khuya âm u, ai khóc than trong sương mù/ Gió rít qua lũy tre như nghiến răng vương mối thù/ Hồn ai kia đau sót chơi vơi/ Hồn quân Nam căm uất chưa nguôi…”.

Với tính chất tưởng niệm rất bi hùng, bài này về sau được cả Chính quyền của ta (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) và Chính quyền Ngô Đình Diêm, rồi Nguyễn Văn Thiệu (Việt Nam Cộng hòa) sử dụng làm bài mặc niệm, dùng trong những dịp lễ tang trang trọng. Bây giờ thì nhiều đám tang công dân, người ta cũng có thể cử hành bài này.

Trước cao trào kháng Pháp, đuổi Nhật ngày càng dâng cao vào năm 1944, để cổ vũ lực lượng tuổi trẻ và toàn dân xông lên, Lưu Hữu Phước sáng tác bài “Lên đàng” rất ngắn gọn, súc tích với giai điệu sôi nổi, náo nức, rất phù hợp với tuổi trẻ khi ấy: “Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng/ Kiếm nguồn tươi sáng/ Ta nguyền đồng lòng điểm tô non sông/ Từ nay ra sức anh tài…”.

Hiện nay, “Lên đàng” vẫn phát huy tác dụng tốt, thường xuyên vang lên trong mọi sinh hoạt của tuổi trẻ khắp nơi. Mặc dù lời ca có thể không còn phù hợp nhưng không khí, tính chất tươi trẻ của giai điệu và nhất là tình cảm yêu nước, muốn xả thân cống hiến cho Tổ quốc, dân tộc thì mãi mãi vẫn còn nguyên vẹn ý nghĩa, giá trị.

Ngoài ba bài hát tiêu biểu trên, Lưu Hữu Phước còn sáng tác một số bài nữa cùng chung chủ đề khơi gợi lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, khích lệ ý chí chống xâm lăng: “Bạch Đằng Giang”, “Hội nghị Diên Hồng”, “Hận sông Gianh”, “Ải Chi Lăng”…

Kế tiếp Lưu Hữu Phước, phải kể ngay đến Đỗ Nhuận (1922-1991).

Cùng năm 1939, nếu Lưu Hữu Phước sáng tác ca khúc đầu tiên là “Tiếng gọi sinh viên” (sau đổi thành “Tiếng gọi thanh niên”) như đã nói thì Đỗ Nhuận mới 17 tuổi cũng đã viết bài hát “Trưng Vương” nhân dịp kỷ niệm cuộc khởi nghĩa của vị nữ anh hùng tiết liệt. Tiếp đó, ông viết các bài “Chim than”, “Lời cha già”, “Đường lên Ải Bắc”. Ba bài này, về sau, vào năm 1940, được tác giả phát triển thành ca cảnh “Nguyễn Trãi - Phi Khanh” biểu diễn rất có tiếng vang. Mới 18 tuổi, chưa được học gì về âm nhạc nhưng Đỗ Nhuận đã để lộ rõ khả năng sáng tác nhạc kịch (opéra) mà ca cảnh trên (ópérette) đã báo hiệu. Sau này, ông là nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên viết nhạc kịch với các vở đình đám: “Cô Sao”, “Người tạc tượng”.

Đỗ Nhuận hoạt động cách mạng từ rất sớm. Năm 1943, lúc 21 tuổi, ông tham gia viết rồi rải truyền đơn ở quê mình tại Hải Dương. Bị bắt và bị đưa qua nhiều nhà tù ở Hải Dương, Hỏa Lò (Hà Nội) rồi cuối cùng bị đày lên Sơn La. Những ngày tháng này, ông viết hàng loạt bài liên quan đến nhà tù, thể hiện khát vọng muốn được tự do để tiếp tục hoạt động cách mạng: “Chiều tù”, “Côn Đảo”, “Hận Sơn La”, “Tiếng gọi tù nhân”, “Viếng mồ tử sĩ”.

Đặc biệt là “Du kích ca” (sáng tác năm 1944) có sức lan tỏa rộng rãi và sức cổ vũ mạnh mẽ: “Anh em trong đoàn quân du kích cùng vác súng lên nào/ Đi lên! Xung phong!/ Băng qua rừng qua núi/ xuyên mây mờ đêm tối/ vượt suối băng ngàn…”. Sau lời kêu gọi, kích thích mạnh mẽ là những hành động rất cụ thể: “Giặc tiến tới đây/ súng kia cùng nhau cướp lấy/ Giành cùng nhau bắn/ mỗi viên là mỗi quân thù…”.

Bài này có sức sống mãnh liệt cho mãi tới tận sau này. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhiều đoàn văn công đã dàn dựng để biểu diễn phục vụ bộ đội giải phóng. Ngay cả phía bên kia (Chính quyền Việt Nam Cộng hòa của Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu) cũng sử dụng bài này. Tất nhiên là họ cho sửa lời một số chỗ, ví như “Trong đoàn quân du kích” thì sửa là “Trong đoàn quân yêu nước” Họ tránh từ “du kích” vì cho rằng chỉ “Việt cộng” mới có. 

Sau một thời gian bị giam trong mấy nhà tù kể trên, Đỗ Nhuận được trả tự do. Ra tù, ông tiếp tục sáng tác các bài: “Tiếng súng Nam bộ”, “Đường trường vô Nam”. Đặc biệt là “Nhớ chiến khu”: “Còn đâu trên chiến khu trong rừng chiều/ Bên đèo lắng suối reo ngàn thông réo…”. Khác với Lưu Hữu Phước tạo nên những ca khúc hừng hực khí thế cách mạng mang tính cổ vũ mạnh mẽ như đã nói, Đỗ Nhuận bên cạnh việc này, còn bộc lộ tâm trạng của những người chiến sĩ đi hoạt động cách mạng, bị tù đày hoặc xa nhà nhưng vẫn một lòng son sắt với lý tưởng giải phóng dân tộc khỏi ách xâm lược của ngoại bang.

Ngoài Lưu Hữu Phước và Đỗ Nhuận là hai nhạc sĩ tiêu biểu, tiên phong cho dòng nhạc cách mạng đã để lại nhiều bài hát có giá trị lịch sử và nghệ thuật mà nhiều bài trong số đó còn sống mãi cho tới hôm nay, còn có thêm những bài hát của các tác giả khác cũng rất hay, được phổ biến rộng rãi trong giai đoạn tiền khởi nghĩa và mãi tới sau này. Đó là các bài: “Phất cờ Nam tiến” (Hoàng Văn Thái), “Cờ Việt Minh” (Vương Gia Khương), “Đoàn vệ quốc quân” (Phan Huỳnh Điểu). Đặc biệt là các bài của Văn Cao: “Tiến quân ca”, “Chiến sĩ Việt Nam” và “Diệt phát xít” của Nguyễn Đình Thi đã có sức sống vĩnh hằng. Mấy bài này ra đời vào năm 1944, đầu 1945 trong cao trào đánh Pháp đuổi Nhật, tiến tới giành chính quyền.

Hai bài “Tiến quân ca” và “Diệt phát xít” có giá trị ngang nhau, “người tám lạng, kẻ nửa cân” về nội dung và nghệ thuật, về tính chiến đấu, cổ vũ và sức khái quát, về sự sâu sắc trong nội dung biểu hiện nên được Hồ Chủ tịch cân nhắc khi lựa chọn một bài làm Quốc ca. Cuối cùng, Người đã đưa ra Hội nghị Quốc dân đồng bào họp ở Tân Trào (huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang) ngày 16/8/1945 để trưng cầu ý kiến các đại biểu. Hội nghị này là tiền thân của Quốc hội ngày nay. Cuộc họp bàn và ấn định ngày Tổng khởi nghĩa sau đó chỉ 3 ngày. Cuối cùng, các đại biểu nhất trí cao, đã chọn bài “Tiến quân ca” của Văn Cao làm Quốc ca.

Nhắc đến những bài hát hào hùng ra đời trong dịp tiến tới và diễn ra Cách mạng Tháng 8/1945, không thể không nhắc tới một bài hát rất nổi tiếng là “19/8” của Xuân Oanh: “Toàn dân Việt Nam đứng đều lên góp sức một ngày/ Thề đem xương máu quyết lòng chiến đấu cho ngày mai…”. Cố nhạc sĩ Xuân Oanh kể rằng ông sáng tác bài này gọn trên đường nhập vào đoàn người đi từ Đuôi Cá lên Nhà hát Lớn để dự cuộc mít tinh của nhân dân Thủ đô giành chính quyền mới vào đúng buổi sáng ngày 19/8/1945. Ông vừa đi vừa sáng tác. Đến nơi thì hoàn thành. Được câu nào, tác giả dạy luôn cho những người xung quanh cùng hát. Ai cũng khen hay và hào hứng hát. Bài này có sức sống cho mãi tới hôm nay, cứ mỗi dịp kỷ niệm ngày trọng đại này là lại được vang lên ở khắp nơi.

Những bài hát của một thời hào hùng gắn với cuộc Cách mạng Tháng 8 năm xưa đã như một cuốn lịch sử bằng âm thanh sẽ còn in đậm mãi trong tâm khảm của nhiều thế hệ công chúng.

Thôn Ca

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.