Hai người phụ nữ trong văn Tô Hoài

Sống vắt mình từ đầu thế kỷ 20 sang thế kỷ 21, và viết liên tục từ khoảng năm 1937, 1938 đến khi ông giã biệt cõi nhân gian (2014); nhà văn Tô Hoài là chứng nhân của thời đại; chứng kiến biết bao thăng trầm của đất nước, trong lát cắt lịch sử không dài nhưng đầy bi thương và hào hùng của dân tộc.

Được tiếp chuyện lão nhà văn khi ông còn sống, được ông hé cho biết chuyện tình của mình khi ông còn là người dương thế, là điều hiếm bởi ông rất kín về chuyện này.

Mối tình đầu

Thường nghe chỗ này chỗ kia đồn nhà văn Tô Hoài nhiều mối tình lắm, phụ nữ theo ông nhiều lắm; lại thấy, trong một cuốn hồi ký gần đây của một giáo sư văn học có nói ông yêu con của một nhà văn hiện thực lớn... Ấy cũng là chuyện thường tình của một người nổi tiếng, lại trắng trẻo, vóc dáng thư sinh. Từng là quân của ông nhiều năm lúc ông làm Tổng Biên tập (khi ấy tôi là Thư ký Tòa soạn Báo Người Hà Nội) từ những năm chín mươi; đó cũng là thuận lợi để tôi có thể hỏi ông nhiều điều mà với người khác, ông chưa chắc đã bộc bạch.

“Cái chuyện tớ với cô Lê Minh như trong cuốn hồi ký viết, chuyện thực là không có. Còn ngày xưa và gần đây thì...”. Lão nhà văn cười khì khì chẳng ra thừa nhận cũng chẳng ra không thừa nhận.

Sinh ở làng Nghĩa Đô, ngoại thành Hà Nội, nay là phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Thuở nhỏ, cậu bé Nguyễn Sen (tên thật của Tô Hoài) cùng đám chúng bạn lăn lóc suốt dải ven sông Tô Lịch với nhiều trò, đặc biệt là trò chơi đổ dế, bắt dế, chọi dế; vì thế ông có vốn sống khi viết truyện “Dế mèn” rồi “Dế mèn phiêu lưu ký” những tác phẩm góp phần làm nên tên tuổi Tô Hoài. Ở tuổi thiếu niên, có một cô gái cùng làng Nghĩa Đô, dáng nhỏ nhắn, xinh xắn, tuổi sàn sàn cảm mến anh chàng Nguyễn Sen. Nguyễn Sen cũng vậy.

Thích nhau, yêu nhau; lẽ thường của tình yêu, hai người lúc ấy độ tuổi mười lăm mười sáu. Thế rồi bố cô ấy biết chuyện, đánh cô ấy dữ lắm, bắt cô phải dời chốn làng quê ven đô ra sống ở Hà Nội. Cách đây hơn tám mươi năm, khoảng cách giữa nội và ngoại thành xa xôi lắm. Buồn, thất vọng, chàng trai mới lớn Nguyễn Sen lao vào viết chuyện, viết những cái quanh mình, mình biết...

Cố nhà văn Tô Hoài.
Cố nhà văn Tô Hoài.

Khi đã đi làm ở phố và nổi tiếng với “Dế mèn phiêu lưu ký”, Tô Hoài biết cô gái mình yêu đã buộc phải lấy một người ở nội thành Hà Nội. Đáng buồn thay, được vài năm thì cô ấy mất, mất trẻ lắm, mới ở tuổi hai mươi.

Tô Hoài biết tin đã cùng các nhà thơ Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Bính xuống tận Thanh Xuân (giờ là quận Thanh Xuân) viếng cô gái mệnh yểu. Ai chẳng có mối tình đầu và mối tình đầu thường để lại dấu ấn khó phai trong cuộc đời mỗi người. Tô Hoài đã đưa chuyện mối tình đầu của mình vào văn chương, thành tiểu thuyết “Giăng thề”.

Mối tình sâu nặng qua hai thế kỷ

Mối tình sâu đậm nhất, kéo dài tới hơn bảy mươi năm, cũng vắt qua hai thế kỷ, mang đậm nét riêng Tô Hoài nhưng cũng đậm dấu ấn thời đại, dân tộc - đó là mối tình với cô Phụng. Có lẽ đây là lần đầu tiên, nhà văn nói tới bí mật của riêng mình mà tôi được biết.

Khi chuyện về con Dế mèn được đưa đến Nhà xuất bản Tân Dân của Vũ Đình Long và in ra, nhiều người thích; nhà văn Vũ Ngọc Phan và Nguyễn Công Hoan lúc ấy đang làm việc ở Tân Dân, gợi ý với Tô Hoài mở rộng và nâng cao tầm của chuyện.

Nhuận bút của “Dế mèn phiêu lưu ký” được hai mươi đồng - khoản tiền lớn lúc đó - một tạ gạo chỉ có 3 đồng. Tô Hoài đề nghị nhà Tân Dân cấp cho ông cái giấy với tư cách phóng viên bản báo đi các nơi viết bài gửi về. Vậy là chí trai được thỏa, Tô Hoài ung dung đi du ký khắp Bắc, Trung, Nam Kỳ, rồi Lào, Cao Miên...

Thời gian trong Sài Gòn, Tô Hoài xuống một đồn điền cao su ở Dầu Tiếng tìm hiểu cuộc sống, con người vùng này. Thường Tô Hoài đến một tiệm tạp hóa nơi thị trấn mua tem thư, sách báo. Tiệm tạp hóa có cô gái con chủ nhà là học sinh trường nữ sinh áo tím Sài Gòn, nghỉ hè về phụ giúp gia đình may vá quần áo. Chàng thanh niên - nhà văn trẻ thấy cứ mỗi lần mình đến, cô gái lại diện chiếc quần lụa trắng. “Thế là tôi biết cô ấy làm duyên mỗi khi mình xuất hiện. Tôi tinh ra phết...”.

Ông lão tuổi 90 cười khà khà, mắt háy háy, hóm hỉnh nhớ nhịp đập trái tim thời trai trẻ. Tô Hoài hẳn nhiên là có cảm tình với cô gái miền Nam với nét đẹp dịu dàng, thầm kín... Dần dà hai người yêu nhau, yêu say đắm, mãnh liệt. Tô Hoài thân với gia đình cô Phụng (tên cô gái), gia đình đồng ý chuyện hai người yêu nhau.

Nếu như câu chuyện đến đây kết thúc và như bao chuyện tình dù rất lãng mạn, nhưng là chuyện tình lướt qua cuộc đời của một chàng trai - nhà văn trẻ, trong những chuyến xê dịch; cũng chẳng có gì để bàn tiếp. Tình yêu của họ gắn với thời thế và cũng bởi thời thế mà trở nên đau đáu suốt chặng đường đời mỗi người; để lão nhà văn lừng danh của chúng ta kể lại trong sự bồi hồi.

Tô Hoài và cô Phụng yêu nhau thắm thiết, đến độ đã tính đến chuyện hôn nhân. Bước chân xê dịch của chàng nhà văn Tô Hoài đến Dầu Tiếng, yêu và định lấy vợ ở vào thời điểm ấy cũng đủ hiểu mối tình của họ sâu nặng thế nào.

Tô Hoài khi ấy đã hoạt động thanh niên cứu quốc, ông ra Bắc rồi tính vào Nam cưới vợ; nhưng không may xung đột Pháp - Nhật nổ ra. Xe lửa Bắc Nam gián đoạn không tiếp tục chạy, rồi chiến tranh, rồi Tô Hoài bị cuốn vào hoạt động Văn hóa Cứu quốc nay đây mai đó; không vào, không liên lạc được với cô Phụng. Cô Phụng đã đi khắp nơi tìm Tô Hoài, đến gặp cả nhà thơ Xuân Diệu nhờ tìm nhưng vẫn không thấy. Những năm bốn mươi của thế kỷ trước, thông tin liên lạc đâu có như bây giờ, vả lại Tô Hoài đang hoạt động nên ngay Xuân Diệu cũng chẳng biết ông ở đâu mà nhắn.

Hai người bặt tin nhau. Cô Phụng không tìm được Tô Hoài nên trở lại Sài Gòn rồi sau đó lấy một người Pháp và sang Pháp - sau ngày đất nước thống nhất Tô Hoài mới biết như thế.

Trong những năm chiến tranh, đất nước chia cắt; chàng thanh niên Nguyễn Sen ngày nào đã là nhà văn lớn, ông đảm nhiệm nhiều vị trí lãnh đạo trong Hội Nhà văn. Khoảng giữa những năm 60 của thế kỷ hai mươi, bạn thân của Tô Hoài là nhà văn Nguyễn Văn Bổng được lệnh đi chiến trường (đi B), Tô Hoài đã nhờ bạn nếu vào Sài Gòn thì tìm hộ cô Phụng. Nhà văn Nguyễn Văn Bổng vào chiến trường, ở chiến khu rồi được điều động hoạt động trong nội thành Sài Gòn.

Nguyễn Văn Bổng đi tìm nhưng không gặp được bà Phụng, bà đã sang Pháp. Bản thân nhà văn, khi phụ trách công tác đối ngoại của Hội Nhà văn và làm Phó Chủ tịch Ủy ban đoàn kết Á - Phi - Mỹ La tinh, trong những lần đi nước ngoài đều có ý kiếm tìm bà Phụng, nhưng vẫn bặt vô âm tín.

Thế rồi, khi Tô Hoài đang lãnh đạo Hội Văn nghệ Hà Nội thì nhận được lá thư, bên ngoài chỉ đề người nhận: Tô Hoài. Ông sững sờ cảm động bởi lá thư đó của bà Phụng gửi về. “Sau đó tôi viết một cái thư cho cô ấy, cô ấy từ Pháp bay về Việt Nam và tìm đến Hội Văn nghệ Hà Nội. Không may hôm ấy tôi đi vắng. Nhân có trưng bày tranh của nữ họa sĩ Kim Bạch tại trụ sở Hội - 19 Hàng Buồm, cô ấy xem rồi mua một bức mang vào Sài Gòn”.

Tô Hoài vào Sài Gòn thăm bà Phụng đang ở nhà ông anh, hôm đi có cả nhà văn Đoàn Minh Tuấn. “Gặp nhau, cô ấy bảo: Anh ốm quá. Từ ấy, hàng năm tôi đi Sài Gòn gặp cô ấy”. Phải là một mối tình sâu đậm đến nhường nào mới khiến nhà văn của chúng ta thương nhớ, kiếm tìm bao nhiêu năm trong vô vọng. Và, hẳn rằng các cung bậc tình cảm của hai người, e rằng chỉ họ mới tường tận mà thôi. Nhà văn Tô Hoài cùng người yêu cũ đi thăm thú hết Sài Gòn, Vũng Tàu rồi miệt vườn Nam Bộ...

Bà Phụng cũng ra Hà Nội cùng nhà văn phiêu ký Vịnh Hạ Long và một số nơi khác. Ông còn tổ chức cho bà Phụng gặp khắp các con ông. Mối tình này được Tô Hoài viết thành truyện “Hoa Bìm biển”. Có thể nhiều người đã đọc nhưng nghĩ rằng ông hư cấu.

Vâng, tôi cũng đã đọc truyện này của ông; hồi đang là quân của ông; những hôm mang ma-ket báo đến để ông duyệt, tôi thường thấy bên cửa sổ phòng làm việc ở phố Đoàn Nhữ Hài có cái cây dây leo lạ. Hỏi, ông nói đó là cây Bìm biển. Chỉ đến khi ông kể mối tình với bà Phụng, tôi mới biết đó là thực tế của cuộc đời ông. Ông vẫn rất yêu bà Phụng, đến độ như người ta thường nói: nhìn vật thấy người...“Nhiều năm trước, bà ấy đi đâu, ở Pháp hay Mỹ đều thư cho tôi. Mấy năm nay không thấy, chắc mất rồi. Bà ấy cũng đã ngoài tám mươi rồi còn gì” - Nhà văn giọng trầm ngâm, đôi mắt xa vời vợi nhìn ra cửa sổ.

Cao Minh

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.