(Tưởng nhớ nhà thơ Lưu Quang Vũ và nhà thơ Trần Quang Quý)

Hai bài thơ về căn nhà chật

Có lẽ với mỗi chúng ta, ai cũng mơ ước có được một mái nhà cho riêng mình. Mái nhà vừa là tài sản vật chất lớn mà có thể phải dành dụm cả đời mới có được, bởi một trong ba việc lớn của đời người như các cụ đã dạy, chính là: tậu trâu - lấy vợ - làm nhà. Mái nhà lại cũng mang giá trị tinh thần, được coi là tổ ấm cho mỗi gia đình, là nơi các thành viên trở về sum họp đoàn tụ sau những ngày làm việc vất vả. Mái nhà là không gian đầm ấm luôn rộng mở để đón con người tìm về, xoa dịu những buồn đau.

Thế nhưng, không phải mấy ai cũng sớm có căn nhà ưng ý của đời mình. Khi còn trẻ, không ít người trong số chúng ta phải đi thuê nhà, trải qua cuộc sống tạm bợ, cơm niêu nước lọ. Rồi đến khi có một không gian riêng của mình, dù là chật hẹp, thì đã đủ lấy làm mừng rỡ, hạnh phúc hơn biết bao người khác.

Thế nhưng, rõ ràng một căn nhà rộng rãi thoải mái vẫn khác biệt hẳn với một căn nhà chật chội, nơi mà mọi sinh hoạt hàng ngày diễn ra gặp phải rất nhiều hạn chế, có ở trong đó mới biết được. Quan trọng là mỗi người đã đối mặt với không gian ấy của mình ra sao và thậm chí, có thể biến nó thành thơ.

Thì đây, trong lịch sử thơ ca Việt Nam thời hiện đại đã có tới 2 bài thơ rất đặc biệt về đề tài căn nhà chật. Đó là bài thơ "Nhà chật" của nhà thơ Lưu Quang Vũ và bài "Viết tặng em trong ngôi nhà chật" của nhà thơ Trần Quang Quý.

nhà thơ lưu quang vũ và vợ nhà thơ xuân quỳnh.jpg -0
Nhà thơ Lưu Quang Vũ và vợ nhà thơ Xuân Quỳnh.

Cả hai bài thơ đều được ra đời trong những thập niên 80 của thế kỷ trước, khi đời sống của đất nước ta còn vô vàn khó khăn. Cho tới 1986, bước sang thời kỳ Đổi Mới, nhưng vẫn còn phải trải qua mấy năm bị cấm vận. Bài thơ của Lưu Quang Vũ ra đời trước, viết về chính căn phòng nhỏ ở phố Huế, là mái ấm của ông với nữ sĩ Xuân Quỳnh:

Nhà chỉ mấy thước vuông, sách vở xếp cạnh nồi
Nếu nằm mơ, em quờ tay là chạm vào thùng gạo
Ô tường nhỏ treo tranh và phơi áo
Ta chỉ có mấy thước vuông cho hạnh phúc của mình

Nhà chật như khoang thuyền hẹp nhỏ giữa sông
Vừa căng buồm để đi, vừa nấu cơm để sống
Phải bỏ hết những gì không cần thiết
Ta chỉ có mấy thước vuông cho hành lý của mình

Khoảng không gian của anh và em
Khi buồn bã em không thể quay mặt đi nơi khác
Anh không giấu em một nghĩ lo nào được
Ta chỉ có mấy thước vuông để cùng khổ cùng vui

Anh ngẩng lên là ở cạnh em rồi
Bạn thuyền ơi, ngoài kia chiều lộng gió
Bên cửa sổ của gian phòng nhỏ
Mắt em xanh thăm thẳm những chân trời.

Chỉ qua vài nét phác ngay trong hai câu thơ đầu tiên, người đọc đã cảm nhận được những khó khăn vất vả, nỗi bức bí vì cả gia đình phải sinh tồn trong một không gian quá chật hẹp. Nhiều độc giả của thời nay đọc những câu thơ này có khi ngỡ ngàng khó tin, có khi cười ra nước mắt: "sách vở xếp cạnh nồi, nằm mơ quờ tay là chạm vào thùng gạo".

Hiện thực thì khó khăn như vậy nhưng tâm hồn con người không bao giờ thiếu đi phần lãng mạn. Những mảng đối lập vì thế cứ song hành với nhau trong những câu thơ: "Ô tường nhỏ treo tranh và phơi áo”, “Vừa căng buồm để đi, vừa nấu cơm để sống". Căn nhà chật được ví như khoang thuyền giữa lòng sông, tuy là nhỏ hẹp đấy nhưng tràn đầy những hứa hẹn, hoài bão ở phía trước.

Nhà thơ nói tiếp với chúng ta những cái "lợi ích" của nhà chật, đó là khi buồn cũng như khi vui, hai vợ chồng không thể giấu giếm nhau điều gì. Suy rộng ra, trong đời sống sinh hoạt thường ngày, nhà chật cũng trở thành "điều kiện tích cực" để nhanh chóng xóa tan mọi hờn giận, để vợ chồng thuận hòa sau những tình huống… "xô bát xô đũa". Vậy là người lạc quan luôn nhìn ra những điều đẹp đẽ, đầy hy vọng ngay cả trong những tình huống xấu nhất.

Khổ thơ cuối bỗng mở rộng không gian của bài thơ đến vô vàn, bắt đầu từ một điểm nhìn qua ô cửa nhỏ: "Bạn thuyền ơi ngoài kia chiều lộng gió”, “Mắt em xanh thăm thẳm những chân trời". Câu thơ cho con người thêm sức mạnh và niềm tin. Gia đình ấy như con thuyền nhỏ sẽ còn căng buồm lướt sóng để ra biển lớn, để thực hiện những ước mơ tuơi đẹp. Và cho dù sau này, tai nạn giao thông ngang trái đã cướp đi sinh mệnh của cả gia đình, song Lưu Quang Vũ vẫn kịp để lại cho đời rất nhiều kiệt tác, cũng từ căn phòng nhỏ 6m2 ấy.

untitled-7.jpg -0
Nhà thơ Trần Quang Quý và vợ.

Bài thơ của Trần Quang Quý xuất hiện sau bài thơ của Lưu Quang Vũ một chút, đồng thời cũng được chọn làm tên cho tập thơ đầu tay của ông in năm 1990. Theo nhiều bạn bè của Trần Quang Quý kể lại, căn nhà đầu tiên của vợ chồng nhà thơ Trần Quang Quý ở mạn Đê La Thành, gần Trường Đại học Văn hóa, là nơi nhà thơ Trần Quang Quý đi học Trường Viết văn Nguyễn Du, đúng là một ngôi nhà… chật, một mái nhà cấp 4 trông giống như một túp lều. Và chính ở đây, một bài thơ độc đáo đã ra đời:

Lối về nhỏ căn nhà ta bé nhỏ
Một tiếng guốc khua cũng đủ chật rồi
Em nấu bếp nhìn anh trong mắt ướt
Thế là chiều Hà Nội bớt lang thang…

Gió ơi gió
Chiều nay thôi đừng rủ
Cây ơi cây
Thôi rụng lá im lìm
Cuộc đời thật mỗi ngày reo quanh bếp
Cứ chập chờn ngay cả lúc yêu em…

Đâu những tầng lầu sang, ánh đèn cao áp
Mái nhà con vừa khép đủ chúng mình
Ta bỗng thấy thương hơn từng con nhện

Đi suốt đời một mảnh tơ riêng…

Em vất vả gầy hơn đêm ít ngủ
Lo cho anh chi chút lúc lên đường
Một viên thuốc đến năm ba lần dặn
Ốm đau tan từ một lời thương…

Anh nghèo lắm có gì đâu ngoài sách
Có gì đâu gia tài chẳng ngoài em
Ô cửa hẹp mà trời thăm thẳm quá
Một ngôi sao thả lỏng giữa xa mờ
Anh bất chợt nhìn em bất chợt
Ô cửa này rộng mở anh đi…

Nỗi chật chội trong căn nhà của thơ Trần Quang Quý cũng hiện lên từ góc bếp với ánh mắt ướt của người vợ hiền, sự quan tâm chăm sóc chồng, từng con nhện đương giăng tơ. Khác với Lưu Quang Vũ, Trần Quang Quý không ngần ngại nói thẳng về những vất vả nhọc nhằn của vợ: "Em vất vả gầy hơn đêm ít ngủ/ Lo cho anh chi chút lúc lên đường". Những câu thơ chân thật làm chúng ta cảm động đến rưng rưng: "Ốm đau tan từ một lời thương”, “Anh nghèo lắm có gì đâu ngoài sách". Không cần phải nhiều lời, người đọc cảm nhận ngay được tình yêu vợ tha thiết, sự trân trọng hạnh phúc có thật dù rất đỗi đơn sơ trong từng ngày sống: "Có gì đâu gia tài chẳng ngoài em".

Cũng giống với Lưu Quang Vũ, khép lại bài thơ của Trần Quang Quý cũng là hình ảnh một ô cửa hẹp nhưng hướng đến bầu trời thăm thẳm. Bài thơ của Lưu Quang Vũ kết thúc bằng thời gian nghệ thuật buổi chiều thì bài thơ của Trần Quang Quý kết thúc bằng thời gian nghệ thuật đêm khuya qua hình ảnh "một ngôi sao thả lỏng giữa xa mờ". Ngôi sao ấy phải chăng chính là niềm tin mãnh liệt, là ước mơ không bao giờ lụi tắt.

Sau này, như chúng ta đều biết, nhà thơ Trần Quang Quý đã có nhiều thành tựu văn học được ghi nhận, in dấu tên tuổi mình trong đời sống văn học Việt Nam hiện đại qua nhiều tập tác phẩm được công bố. Ông đã nhận được nhiều Giải thưởng văn học, trong đó có giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2017. Trần Quang Quý cũng là người khai sinh ra trường phái Thơ Năm Câu (thơ namkau) qua hai tập thơ xuất bản năm 2016 và 2019, được nhiều người hưởng ứng và phát triển, thành lập cả một câu lạc bộ riêng với số thành viên lên tới hàng trăm người.

Cả hai bài thơ về căn nhà chật của Lưu Quang Vũ và Trần Quang Quý đã ra đời cách đây trên 30 năm nhưng vẫn làm lay động người đọc hôm nay bởi sự chân thực và cảm động, bởi những hình tượng thơ tràn đầy cảm xúc và hơn thế nữa là một tinh thần đẹp đẽ, lạc quan của con người luôn vượt lên hoàn cảnh khó khăn để hướng về tương lai tươi sáng. Nhà thơ Lưu Quang Vũ đã đi xa 34 năm. Còn nhà thơ Trần Quang Quý vừa từ giã chúng ta đúng vào sáng ngày Tết Trung thu sau mấy năm trời kiên cường chống chọi với bạo bệnh. Bài viết này của tôi vì thế, cũng như nén hương nhỏ tưởng nhớ nhà thơ Trần Quang Quý, một tấm gương về sự miệt mài sáng tạo nghệ thuật cho đến những giây phút cuối cùng của cuộc đời.

Vô Thường

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.