Hà Nội trong thơ Việt

Đã là người Việt Nam, chắc chắn, ai cũng có một niềm tự hào sâu sắc về Hà Nội. Mỗi người Việt đều thể hiện tình yêu với Hà Nội theo một cách riêng, song với người nghệ sĩ thì tình yêu ấy được bộc lộ qua những tác phẩm nghệ thuật, mà ở bài này, chúng tôi dành riêng cho việc nói về Hà Nội trong thơ, theo một dòng chảy từ truyền thống tới hiện đại.

1. Trước khi mang tên Hà Nội, Thủ đô đã trải qua các tên gọi: Thăng Long (1010 - 1399), Đông Đô (1400 - 1406), Đông Quan (1407 - 1428), Đông Kinh (1430 - 1786). Trong thi ca Việt Nam thời trung đại, Thăng Long là cái tên được nhắc đến nhiều hơn cả và thậm chí đã trở thành biểu tượng về một thời kỳ phồn thịnh, vàng son của dân tộc, gắn với hai triều đại Lý – Trần kéo dài gần 4 thế kỷ với nhiều thành tựu, chiến công rực rỡ. 

Một loạt thi phẩm của các danh gia giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX đều sử dụng địa danh Thăng Long như hồi ức về một thời kỳ không thể nào quên. Một trong những thi phẩm nổi tiếng nhất của Bà Huyện Thanh Quan có ngay hai chữ Thăng Long từ nhan đề - “Thăng Long thành hoài cổ” - với những lời thơ day dứt, đầy hoài niệm tiếc nuối: “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”. 

Đại thi hào Nguyễn Du cũng có một chùm hai bài thơ mang tên Thăng Long với những câu: “Tản Lĩnh Lô Giang tuế tuế đồng/ Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long” (Núi Tản, sông Lô dạo khắp vùng/ Bạc đầu còn được thấy Thăng Long) và “Cổ thời minh nguyệt chiếu tân thành/ Do thị Thăng Long cựu đế kinh” (Tân thành trăng cũ sáng ngời soi/ Thăng Long kinh cũ trải bao đời). 

Cao Bá Quát thì có bài thơ mang tựa đề “Thăng Long thành lãm thắng hữu cảm” (Cảm xúc khi lên thành Thăng Long ngắm cảnh) cũng với niềm hoài niệm mênh mang: “Bậc nhất phồn hoa kinh khuyết cũ/ Cao sâu Nùng, Nhị vẫn sơn hà/ Thành trì trơ mấy hồi kim cổ/ Phường phố thay bao lớp trẻ già…” (Hoàng Tạo dịch)

Hồ Hoàn Kiếm - biểu tượng của Thủ đô Hà Nội.
Hồ Hoàn Kiếm - biểu tượng của Thủ đô Hà Nội.

Sang đến thế kỷ XX, vẫn còn những bài thơ nổi tiếng sử dụng địa danh Thăng Long. Thi phẩm để đời của thi tướng Huỳnh Văn Nghệ với hai câu tuyệt tác đã in sâu vào tâm hồn bao thế hệ: “Từ thuở mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long” (Nhớ Bắc). 

Nhà thơ Đỗ Trung Lai trong những năm đầu của thế kỷ XXI đã viết bài thơ “Thăng Long” (13 khổ, mỗi khổ 4 câu 5 chữ) với điệp khúc “Có một Thăng Long” trở đi trở lại trong câu thứ nhất và câu thứ ba mỗi khổ, tạo thành một điểm nhấn đặc biệt cho toàn thi phẩm: “Có một Thăng Long huyền thoại/ Rồng lên từ phía sông Hồng/ Có một Thăng Long áo mỏng/ Gió đùa quanh tấm lưng ong/ Có một Thăng Long sát thát/ Tinh kỳ rợp Đông Bộ Đầu/ Có một Thăng Long thơm ngát/ Mặt hoa nồng nàn đêm sâu”.

2. Trong thời kỳ 1945 – 1975, ta còn thấy hiện lên hình ảnh một Hà Nội của thời chiến với nhiều cung bậc cảm xúc. Thời kỳ chống Pháp, có không ít câu thơ lãng mạn hào hoa: “Đêm Hà Nội buốt tê/ Mái buồn nghe sấu rụng” (Chính Hữu), “Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội/ Những phố dài xao xác hơi may/ Người ra đi đầu không ngoảnh lại/ Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy” (Đất nước - Nguyễn Đình Thi), “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới/ Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” (Tây Tiến - Quang Dũng). 

Nhưng cùng với lãng mạn hào hoa còn có cả một Hà Nội rực lửa kháng chiến, một Hà Nội quyết tử cho tổ quốc quyết sinh: “Thôi nhé miền xuôi thôi tạm biệt/ Cống Chéo, Đồng Xuân thề một chết/ Hàng Gai tay bỏng trục ba càng/ Đất cũ Thăng Long người lẫm liệt” (Những làng đi qua – Quang Dũng), “Trước đau thương Hà Nội không buồn/ Hà Nội rắn như thanh sắt nguội (…) Ta mang ba mươi sáu phố phường đi kháng chiến/ Chín năm rừng lòng vẫn Thủ đô” (Nhớ ngày Thủ đô kháng chiến – Hoài Anh). 

Thời chống Mỹ, không thể không nhắc đến trường ca nổi tiếng “Em ơi Hà Nội phố” gồm 23 khúc của nhà thơ Phan Vũ, viết năm 1972, trong những ngày cả Hà Nội làm cuộc Điện Biên Phủ trên không chống lại không lực Hoa Kỳ. Gần 500 dòng thơ khắc khoải, đắm say, xa xót, nghẹn ngào đã mang đến cho người đọc một Hà Nội với bao nỗi niềm, như thể ngàn năm cùng đọng lại trong một khoảnh khắc. 

Hà Nội vừa đẹp dịu dàng của những hẹn thề thiêng liêng long lanh ký ức, Hà Nội vừa buồn thương của những biệt ly chưa hẹn ngày trở lại, Hà Nội có những mất mát không gì bù đắp nổi như những vết thương nhức nhối muôn đời: “Em ơi Hà Nội phố/ Ta còn em mùi hoàng lan/ Ta còn em mùi hoa sữa/ Tiếng giày ai gõ nhịp đường khuya/ Cọt kẹt bước chân quen/ Thang gác thời gian/ Mòn thang gỗ/ Ngôi sao lẻ lạc vào căn xép nhò (…) Tháng Chạp/ Đôi tân hôn chưa kịp nằm chiếu hoa/ Đã có tên trong vòng hoa tưởng niệm/ Một tháng Chạp/ Trắng khăn xô, khói hương dài theo phố/ Một tháng Chạp/ Thâu đêm/ Mẹ thức hóa vàng…”. 

Cũng trong năm 1972 còn phải nhắc đến bài thơ dài của Lưu Quang Vũ như một bức tranh hiện thực không giấu giếm không che đậy. Nỗi đau thương ấy cũng là lời tố cáo lên án đanh thép tội ác dã man của kẻ thù: “Xe nối xe sừng sững chở quan tài/ Đóng vội bằng mặt bàn, cánh cửa/ Phấn run rẩy ghi tên người xấu số/ Lên nắp quan xộc xệch chẳng bào sơn/ Quan tài trẻ thơ như những chiếc hòm con/ Những bát đĩa tủ giường tan vỡ/ Quần áo nát, gạo dầu ngùn ngụt lửa/ Sách vở dép giày vùi dưới hố sâu/ Tấm màn trắng xóa/ Xé chia nhau chít vội lên đầu/ Cả khu phố già đi hàng chục tuổi/ Những bó hương bên đường nghi ngút khói/ Những bó hương châm nát cả bầu trời/ Người trồng rau, chữa khóa, vá may/ Người nhặt củi, quét đường lam lũ/ Từ nay chung buổi giỗ…” (Khâm Thiên).

Một góc Hà Nội.
Một góc Hà Nội.

3. Sau 1975 cho tới nay, Hà Nội trở về với thời bình, gắn với những câu chuyện, cảm xúc, tâm sự riêng của từng cá nhân. Và chỉ có sự chân thành trong tình yêu Hà Nội là nguồn cơn duy nhất khiến những bài thơ, câu thơ lưu luyến mãi trong ký ức người đọc. 

Có những bài thơ không có từ Hà Nội nào nhưng đầy ắp những địa danh của Hà thành: “Gửi về cho chị Tây Hồ lạnh/ Gió cố nhân lùa liễu ho khan/ Khói hương Quán Thánh ngô lai nướng/ Phố vắng rộng dài hai đi hoang/ Thiền Quang một miếng thu rớt lại/ Ngầy ngậy thơm hoa sữa vắng chồng/ Nhật Tân đôi chút sương xuống sớm/ Giọng Bắc hồ nghi bay thinh không…” (Gửi chị - Nguyễn Hùng Vỹ). 

Nỗi nhớ quắt quay da diết của người phải chia xa Hà Nội lâu ngày mới được trở về hiện lên trong những câu thơ của Thanh Tùng làm ta xúc động rưng rưng: “Hà Nội ơi, tôi đã cất giữ người cẩn thận/ Như dưới làn da kia dẫu đã héo nhàu, máu vẫn âm thầm chảy/ Hà Nội ơi, nguồn mộng mơ dày như cỏ mùa xuân…” (Hà Nội). 

Chắc không phải ngẫu nhiên mà một loạt bài thơ về Hà Nội đều được các nhạc sĩ phổ nhạc thành những ca khúc nổi tiếng, đi vào lòng công chúng, chắp thêm một đời sống nữa cho tác phẩm. Bài thơ vừa dẫn bên trên của Thanh Tùng đã được nhạc sĩ Phú Quang phổ thành ca khúc “Hà Nội ngày trở về”. 

Tương tự như vậy, các bài thơ “Tôi muốn mang Hồ Gươm đi” (thơ Trần Mạnh Hảo), “Có phải em mùa thu Hà Nội” (thơ Tô Như Châu), “Hà Nội mùa này vắng những cơn mưa” (thơ Bùi Thanh Tuấn) đều trở thành những ca khúc có độ “phủ sóng” đặc biệt…

4. Còn có một Hà Nội trong những giọng thơ nữ với những sắc màu riêng. Những năm gần đây, Đặng Hà My có lẽ là nhà thơ nữ viết về Hà Nội nhiều hơn cả. Tập thơ “Nhiên sơ” (NXB Văn học, 2011) của chị có 46 bài thì đã có tới hơn một phần ba trong số đó viết về Hà Nội hoặc có những câu thơ về Hà Nội. 

Nỗi nhớ của người con gái sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, nay phải bôn ba nơi góc bể chân trời dễ khiến bất cứ ai trong chúng ta nao lòng: “Em chưa thể cùng anh về với biển/ Bởi nơi em chưa dịu sóng Tây Hồ/ Cát nơi ấy trùng khơi nơi ấy/ Em mang về vời vợi chiết vào thơ/ Chẳng có ngôi sao nào giấu được vào tay áo/ Cho thiên đường thơm thảo giấc yêu/ Em vẫn thế nghiêng mây đường Yên Phụ/ Ươm vu vơ tóc hương ngát mây chiều” (Nghiêng xuống Tây Hồ). Và còn đây nữa là nỗi cô đơn của một người con gái khác, trong một đêm Hà Nội xa cách người yêu: “Xa một tuần có lâu quá không anh/ Sao em thấy ngày cứ dài đến thế/ Đêm Hà Nội thơm nghẹn lòng hoa sữa/ Ngôi sao em ngân ngấn khóc chân trời…” (Đêm Hà Nội nhớ - Bùi Sim Sim).

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.