Gió bay đi, tình người ở lại

Sống lâu, chết nhanh. Câu thành ngữ của cha ông để lại quả không sai. Vậy mà, tôi không tin nhà thơ - nhà văn Nguyễn Phan Hách, người bạn của chúng tôi đã rời cõi tạm gần một năm trời. Tôi vẫn hình dung ông sống đâu đây. Ông cười nói rộn ràng cùng chúng tôi những cuộc đi đây đó. Khi về làng Mão Điền (Bắc Ninh) quê ông. Khi thì xuôi tỉnh Nam, khi đi xứ Đông, xứ Đoài...

Ông vốn là người hiền lành đôn hậu. Nhưng trong công việc, ông lại là người rất quyết đoán. Chả thế, ông đã vững vàng làm người đứng đầu  cơ quan xuất bản mấy chục năm trời. Thời làm xuất bản, ông đã mạnh dạn ký duyệt in những cuốn tiểu thuyết "gai góc", sau này, những cuốn tiểu thuyết đó được đánh giá là những tác phẩm tiêu biểu của văn học thời kỳ Đổi mới.

Sau ngày ông mất, gia đình phối hợp cùng Nhà xuất bản Dân trí, nơi ông làm việc những năm tháng cuối đời, đã cho ra mắt tác phẩm "Nơi gió bay" chọn lọc trong số di cảo thơ-văn-nhạc của ông để lại. Người đọc hiểu thêm trọn vẹn con người của nhà thơ Nguyễn Phan Hách.

Nếu trong một số tác phẩm của ông đã công bố khi ông còn sống, có sức chứa ôm đồm của thời cuộc dữ dội, nhiều biến động (tiêu biểu là tiểu thuyết "Cuồng phong"), thì trong số các tác phẩm chọn giới thiệu từ di cảo của ông, là những trang văn, thơ, nhạc ngọt ngào, nhẹ nhàng và đắm say, dễ đi vào tình cảm người đọc. Quê hương, vẫn là đề tài nặng lòng của ông.

Sinh thời, ông là nhà thơ của nhiều bài thơ tình được chép trong sổ tay của nhiều nữ sinh. Trong tập "Nơi gió bay", người đọc gặp lại cảm xúc thơ thới, trong trẻo của những vần thơ tình yêu, cho dù khi ông viết ở tuổi bảy mươi.

"Tình yêu đầu như sớm đầu thu/ Gió tinh khôi, lụa vàng nắng trải/ Em mang hành trang tình đầu huyền thoại…Hồng vàng không kết trái sau mưa/ Tình đầu thành ngôi sao hoài niệm/ Miền không gian trong veo ẩn hiện" (Tình đầu).

Nhà thơ, nhà văn Nguyễn Phan Hách.
Nhà thơ, nhà văn Nguyễn Phan Hách.

Nhân sự kiện nhà vua Edward VIII, nước Anh, năm 1936, tự viết giấy thoái vị, giã từ ngai vàng để được lấy nàng Wallis dân thường, xúc cảm trước hành vi dám bỏ hết mọi quyền lực để đi theo tình yêu của mình, ông viết bài thơ "Chuyện tình có thật", lối viết như kể chuyện dân gian. "Chuyện này  có thật trên đời/ Mà như cổ tích của thời xa xăm/ Có ông vua trẻ nước Anh/ Phiêu diêu lãng mạn cuộc tình mộng mơ…Chỉ vì một cuộc hôn nhân/ Vứt quăng mũ miện, không cần hào quang/ Chỉ tình yêu ở thế gian/ Mới là tột đỉnh muôn vàn mến thương…" Người ta bảo, tình yêu thời hiện đại phải moden, mới mẻ. Đúng, không ai phản bác. Nhưng ông lại nhìn ra, cái bi kịch của tình yêu: "Khi tình yêu tan vỡ/ Vẫn nỗi đau cổ điển muôn đời" (Mới và cũ).

Những nghĩ suy về nhân sinh quan, về triết lý sống luôn ám ảnh ông. "Trái đất bảy tỷ người/ Bảy tỷ con kiến/ Bò dọc ngang trên mặt đất/ Trái đất bảy tỷ người/ Bảy tỷ con ve sầu/ Khắc khoải khát vọng/ kêu đến thành xác ve…Trái đất bảy tỷ người/ Bảy tỷ con sói/ Lang thang trên đồng hoang" (Bảy tỷ người). Cuộc sống, với con mắt nhà thơ,  ông thấy chỉ như một bàn cờ liên tục bày ra, xóa đi và bày lại: "Cuộc sống chả bình yên/ Những quân cờ nháo nhác/ Mặt đất buồn xơ xác/ Những cuộc cờ nối nhau…".

Hình như chỉ có trong thơ, con người nội tâm của ông mới đươc giãi bày thành thật nhất: "Tôi có bao yêu thương/ Mà không có địa chỉ để gửi. Trước trang viết, ông không giấu nổi chút hoang mang: "Tôi làm thơ để làm gì?/ Tôi làm thơ để cho đi nỗi buồn… Ngớ nga ngớ ngẩn giữa đời/ Ngất nga ngất ngưởng tưởng người khùng điên".

Sự cô đơn của kiếp người, ngỡ muốn giấu đi, mà không giấu nổi. Con người, đôi khi là hiện thân của cô đơn. "Giật mình tỉnh giấc đêm thu lạnh/ Cô đơn sương khói phủ mịt mờ/ Chỉ vầng trăng nhỏ bên song cửa/ Lẽo đẽo theo mình tự thuở xưa" (Bàn cờ).

Nghiệp chữ nghĩa, đã đem lại cho nhà thơ Nguyễn Phan Hách nhiều vinh quang. Bài thơ "Làng quan họ" của ông, nhờ nhạc của Nguyễn Trọng Tạo, đã khiến ông nổi tiếng. Bài thơ phổ nhạc ấy đã trở thành  tác phẩm "đi cùng năm tháng".

Ấy nhưng nghiệp chữ nghĩa, ai cũng không tránh khỏi giây phút chán nản, thất vọng với chính mình. Có lúc, nhìn lại chặng đường đi qua, không khỏi buồn phiền. "Đánh đổi cả cuộc đời/ Lấy vài bài thơ nhỏ/ Đánh đổi bao tháng năm/ Lấy vài ba trang văn" (Cảm khái). Đấy là tự khắt khe với chính mình, chứ như thành tựu văn học ông đã để lại cho đời, đó là kết quả đáng kể, mà bao người cầm bút cả đời không mơ được.

Nhà thơ Nguyễn Phan Hách đã xuất bản: 5 tập thơ, 4 tiểu thuyết, 11 tập truyện ngắn, 18 ca khúc, với nhiều giải thưởng văn học giá trị. Người đọc rất cảm kích, khi ông tự thú: "Bao nhiêu năm/ Tôi vật nhau với chữ nghĩa/ Chữ nghĩa vật tôi ngã chổng kềnh/ Và tôi cũng vật chổng kềnh chữ nghĩa. Để rồi, cho sự kết cục bi thương: Chữ nghĩa vứt vào sọt rác/ Còn tôi thì vào lò thiêu xác" (Vật nhau).

Cái chết, quy luật sinh tử, ai mà tránh khỏi. Thôi thì địa táng, hỏa táng, ấy là việc của người đời lo liệu. Người viết văn, làm thơ, nếu có tài, thì những con chữ viết ra, nó là thể phách còn lại mãi, thoát ra ngoài phần xác. Đọc lại những vần thơ trên, theo tôi, thấy cũng là cách nói diễu nhại của ông mà thôi. Các nhà thơ cổ điển ở nước ta, cũng thường tự giễu nhại mình như thế. Nó có phẩm chất khiêm nhường, mà cũng chứa chất sự kiêu ngầm.

Nhiều trang tản văn, truyện ngắn trong di cảo của ông để lại, đọc lên, có đẹp  đắm đuối như những bài thơ. "Bến quê" in vẻn vẹn có hai trang sách mà gợi nỗi nhớ làng đến bao la. Nỗi nhớ như thế nào?  Ấy là "Nhớ tháng giêng đập đất tra đỗ trồng cà. Nhớ bếp lửa chiều đông thơm mùi cá kho. Nhớ heo may rải đồng chim ngói bay về. Nhớ mùi rơm thơm mùa gặt. Nhớ bến quê lũ trẻ cởi chuồng bơi lội…".

Những ai từng có tuổi thơ gắn bó với làng quê, đọc trang văn ông viết, hẳn nao lòng. Ở "Đóa phù dung", ngỡ như ông đang giãi bày cảm thông cho một kiếp người thục nữ. "Cây Phù dung ở góc vườn. Tinh sương, bông Phù dung nở, trắng muốt ngát thơm. Đàn bướm bay qua nghiêng cánh chào. Phù dung xinh đẹp kiêu sa nhất đời, nhưng Thượng đế chẳng  nói cho ai biết trước số phận của mình…".

Kiếp người xem ra mong manh, ngắn ngủi như một loài hoa. "Nàng không biết rằng, chỉ quá ngọ sang chiều, quyền năng của nàng đã mất hết. Một màu úa tàn gốc rạ, đã xuất hiện, len lỏi, đánh bật sắc trắng hồng trên cánh hoa". Lại càng thấy, mọi thứ sẽ qua đi hết, chỉ còn tình người ở lại. Truyện "Tình mẹ" với lối viết giản dị, mà cảm động. Truyện kể về người mẹ ở làng quê chắt bóp nuôi con ăn học cho nên người.

Với những đồng tiền tích cóp từ việc bán hoa quả vườn nhà "chín hào cứ phải tích thành một đồng. Tiền đẫm mùi mồ hôi tay, cho vào lọ sứ, bịt chặt, chôn xuống nền nhà", để đến khi  đủ tiền mua cho con trai căn hộ ngoài Hà Nội. Hạnh phúc tưởng mãn nguyện với người mẹ, ngờ đâu, bà lại đổ bệnh. Mà lại trọng bệnh. Bà bị ung thư, vì bao năm lầm lũi chăm mảnh vườn cùng thuốc sâu, thuốc bảo vệ thực vật.

Người con trai thương mẹ, nhưng mới ra trường, đâu có số tiền khổng lồ để chữa trị cho mẹ. Anh phải dấu mẹ bán ngôi nhà mẹ mua cho anh, phải nói dối mẹ là con đi làm được nhiều tiền, để đưa mẹ đi chữa bệnh, cho mẹ yên lòng. Nhà văn kết câu chuyện bằng đôi dòng, mà đắng đót lòng người đọc. "Những trái vải thiều quê, ngọt, nhưng sao mà đắng thế. Đời thường hai vị song song".

Ở truyện ngắn "Quang sách", tưởng như ông viết hoài cổ về thời Nho học, các ông đồ làng quê thường có đôi quang sách, xếp đầy sách chữ nho,  treo trang trọng hai bên bàn thờ. Ấy nhưng không phải thế, nhà văn muốn phê phán văn hóa đọc ngày nay ngày một xuống dốc. Trong nhà, có bày tủ sách khung kính bóng lộn, nhưng những cuốn sách trong tủ sách hầu không bao giờ mở ra đọc. Lớp trẻ ỉ vào chiếc laptop, cần gì đọc sách, cho rằng tất cả kiến thức ở trong ấy rồi!

"Chuyện vui mấy anh em văn nghệ Kinh Bắc", bằng lối viết hóm hỉnh, sinh động, ông đã vẽ nên bức tranh bạn bè làm thơ viết văn cùng quê hương của ông, với cảm xúc trân quý. Đấy là các nhà thơ nhà văn: Đỗ Chu, Trần Ninh Hồ, Anh Vũ, Nguyễn Thanh Kim, Vũ Từ Trang… với những nét chấm phá khá đặc biệt, ông đã nêu được niềm đam mê khát khao sáng tạo của lứa bạn bè. 

Làng quê ngày nay thêm giàu đẹp, nhưng cũng còn chứa chất bao hệ lụy. Truyện "Chị xã Tý" ông có phê phán về cái tục lệ còn hủ lậu. "Lệ làng, chết phải mổ lợn mời xóm, mời chạ, đến ăn cỗ, đưa cụ ra đồng. Không có, thì đánh bục trống, chẳng ai đến. Lo ma cho cha mẹ mới tròn đạo hiếu. Không lo, thì chả thành người, không dám ngẩng mặt nhìn ai khi ra đường…".

Sinh thời, nhà văn Nguyễn Phan Hách là người yêu cái làng quê của ông hết mực. Làng quê Mão Điền cũng rất quý ông, dành hẳn sinh phần cho ông trong khu nghĩa trang giữa cánh đồng lúa xanh bát ngát. Chả biết có phải ngại hệ lụy tục lệ của làng, mà  khi rời cõi tạm, ông không về sinh phần ở miền quê Kinh Bắc, mà dặn con cái đưa ông lên nằm nghỉ tận nghĩa trang Thiên Đức, miền đồi núi Phú Thọ.

Như quy luật tự nhiên, ngọn đèn cháy đến giọt dầu cuối cùng, trước khi tắt, bao giờ cũng ánh lên ngọn lửa lung linh nhất. Con chim trước khi lìa đời, bao giờ cũng cất lên tiếng hót cao sang và khắc khoải nhất. "Chữ nghĩa vứt vào sọt rác/ Còn tôi thì vào lò thiêu xác", câu thơ ông viết, đọc gai người. Đấy là tâm thế của người đã đi qua nhiều thành bại, đã tới độ tĩnh tâm, vô vi.

Tâm hồn nhà văn, vốn là một khối mâu thuẫn lớn. Những tác phẩm văn học của Nguyễn Phan Hách để lại,  xứng đáng đưa ông vào đội ngũ những nhà văn tiêu biểu của nền văn học nước nhà. "Nơi bay đi", tập di cảo thơ, văn, nhạc là cả nỗi niềm đắm say và trĩu nặng, mà nhà văn Nguyễn Phan Hách gửi lại cho đời.

Tháng 3-2020

Vũ Từ Trang

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.