Giáo sư Viện sỹ Đặng Vũ Minh và những chuyện kể về bài học xử thế

Hiện nay, ta đang bàn nhiều về giáo dục. Giáo dục trong nhà trường, trong cơ quan, công sở, trong gia đình, trong mỗi dòng họ. Giáo dục về truyền thống, nhân cách, ý thức dân tộc, xu thế hội nhập, giáo dục để hàng ngày mỗi con người đều sống có ý thức, sống đẹp, sống có ý nghĩa … Và điều quan trọng nhất là giáo dục thế nào cho có hiệu quả, nhất là giáo dục truyền thống yêu nước cho giới trẻ mà trong đó tự giáo dục là vô cùng quan trọng, chứ không chỉ hô hào chung chung. Tôi đã nghĩ đến điều này khi gặp Giáo sư, Viện sỹ Đặng Vũ Minh.

Tuy đã nhiều lần gặp ông trong các cuộc họp của Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, nơi ông đang làm Chủ tịch, nhưng lần này ông dành cả buổi trò chuyện với tôi.

Sinh ra trong một gia đình trí thức lâu đời, bố ông là danh y, Giáo sư bác sỹ Đặng Vũ Hỷ, Giải thưởng Hồ chí Minh đợt đầu tiên, có tên trong từ điển "Danh nhân y học thế giới", người sáng lập ra ngành da liễu Việt Nam.

Giáo sư viện sỹ Đặng Vũ Minh nói rằng thủa nhỏ, mẹ ông (bà Phạm Thị Thức con gái học giả Phạm Quỳnh chủ bút báo Nam Phong, Thượng thư Bộ học và Bộ lại) dạy các con bằng cách kể chuyện. Những câu chuyện trong "Quốc văn giáo thư khoa" của học giả Trần Trọng Kim, cả những câu chuyện trong gia đình ông cho đến nay ông vẫn thuộc lòng.

Giáo sư Viện sỹ Đặng Vũ Minh.
Giáo sư Viện sỹ Đặng Vũ Minh.

"Tôi kể cho các con nghe những câu chuyện về cha tôi. Những chuyện mẹ tôi kể lại, cả những chuyện chính bản thân tôi được chứng kiến. Những câu chuyện sau này được in thành sách trong cuốn "Đặng Vũ Hỷ cuộc đời và sự nghiệp" do Nhà xuất bản Y học ấn hành" - ông tâm sự.

"Mẹ tôi kể lại rằng, khi mới đi vào kháng chiến, bố tôi được cử làm Trưởng ty Y tế tỉnh Ninh Bình. Một lần đi xuống xã Thư Điền, bố tôi được biết có một bệnh nhân nghi là bị hủi sống trong túp lều hoang giữa cánh đồng, không ai dám đến gần. Hàng ngày vợ con mang cơm ra cũng chỉ để phía ngoài lều rồi về chứ không dám vào… Bố tôi một mình đi ra đồng, vào trong lều người bị hủi bắt mạch khám bệnh cho bệnh nhân. Rồi bố tôi phát hiện ra người này bị một chứng bệnh khác chứ không phải bệnh hủi. Ông cầm tay dắt bệnh nhân về làng nói rõ cho bà con biết sự thật. Sau khi được bố tôi chữa khỏi bệnh, được sống hòa đồng với vợ con, ông cụ cùng gia đình, làng xóm hết sức biết ơn. Bố tôi nói rằng mình làm nghề y những chuyện như vậy là bình thường… Tôi thuộc lòng chuyện đó và thường kể cho các con tôi nghe…".

"Cha tôi kể lại rằng, trong suốt cuộc đời làm thầy thuốc của mình, ông không bao giờ quên được em liên lạc bị thương mà ông đã sơ cứu. Lần ấy, người ta chuyển đến trạm quân y ở xã Thanh Mỹ, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình một em liên lạc chừng 11, 12 tuổi, quần áo dính đầy bùn đất, một tay bị dập nát vì đạn giặc.

Cha tôi vội cầm máu, rửa vết thương để chuyển về tuyến sau. Nhìn em liên lạc nằm im lặng, mặt tái đi vì đau và mất máu, cha tôi nắm lấy bàn tay nhỏ bé của em còn dính những vết máu khô và hỏi "Tây nó bắn như vậy, em có sợ không?".

Em bé liên lạc nghiến răng, cố nén đau và lắc đầu. Về sau bác sỹ Nguyễn Trinh Cơ kể lại chuyện này trong truyện "Em Ngọc", truyện được đưa vào sách giáo khoa. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, một lần trong hội thảo khoa học, có một người đến bắt tay tôi nói lời cảm ơn. Người đó chính là "Em Ngọc" - Trịnh Ngọc Trình, Giám đốc Tổ chức Hỗ trợ và phát triển giáo dục miền núi".

"Năm 1954, gia đình tôi ở gần trường Đại học Y khoa khi ấy sơ tán về Tuyên Quang, một buổi sáng, cha tôi dẫn tôi vào một lán nhỏ ở góc rừng. Tôi thấy chị y tá đang chuẩn bị tiêm cho một người nước ngoài râu ria tua tủa. Anh ta là một trong những tù binh Pháp bị bắt ở Điện Biên Phủ. Cha tôi khám cho anh ta xong, sờ tay lên trán người tù binh rồi nhắc "Hôm nay anh ta đỡ sốt, nhưng phải tiếp tục tiêm theo đơn".

Quay lại phía người tù binh, cha tôi nói một câu gì đó bằng tiếng Pháp. Anh ta nhìn cha tôi đầy lòng biết ơn rồi lắp bắp: "Méc-xi, méc-xi".

Năm ấy tôi lên 8 tuổi, ám ảnh bởi cảnh chết chóc đau thương, tôi hỏi cha tôi: "Ba ơi, sao ba lại chữa cho thằng Tây?". Cha tôi nói: "Nó đã đầu hàng rồi con ạ. Chữa cho nó để nó còn về với gia đình. Nó cũng là một con người…". Một lần khác, đó là vào năm 1958, cả nhà tôi thức dậy vì tiếng kêu la ồn ào ngoài cửa "Có người treo cổ tự tử". Những người cùng nhà sợ hãi bỏ chạy ra ngoài hè phố.

Nghe tiếng kêu, cha tôi chạy đến, dưới ánh sáng mờ mờ của ngọn đèn điện ở tận hành lang, cha tôi vội vàng gỡ người treo cổ xuống, đặt nạn nhân nằm rồi làm hô hấp nhân tạo. Đã quá muộn. Khi Công an đến lập biên bản, cha tôi phải giải trình. Có người bảo cha tôi sao dại thế, lại mua rắc rối vào người. Cha tôi nói: "Mình là thầy thuốc, chừng nào còn hy vọng cứu chữa thì không thể bỏ nạn nhân…".

Gia đình của Giáo sư Viện sỹ Đặng Vũ Minh năm 1980.
Gia đình của Giáo sư Viện sỹ Đặng Vũ Minh năm 1980.

Viện sỹ Đặng vũ Minh trầm ngâm như đang nhớ lại tất cả. Ông kể cho các con mình nghe những chuyện có thực như vậy. Mỗi câu chuyện là một bài học ở đời. Bài học về đức tính dũng cảm, về lòng bao dung, nhân ái, về tình thương, trách nghiệm của con người. Ông nói rằng giáo dục làm người là điều quan trọng nhất. Chính những người thân yêu trong gia đình ông đã nêu những tấm gương sáng cho con, cho cháu, cho đời sau.

Viện sỹ Đặng Vũ Minh có hai người con gái. Con gái đầu tên Đặng Lan Phương sinh năm 1970, bảo vệ thành công luận án tiến sỹ về giáo dục học ở Nga, hiện làm việc ở bộ Giáo dục và Đào tạo. Cô con gái thứ hai Đặng Lan Anh sinh năm 1974, có bằng tiến sỹ về hóa học ở Pháp, hiện làm việc ở Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam, nơi Viện sỹ Đặng Vũ Minh nhiều năm làm Chủ tịch. Vợ ông, bà Trương Thị Xuân Dung, từng  dạy ở Đại học Sư phạm, nay đã nghỉ hưu, cũng từng học đại học ở Liên Xô (cũ). Ông đã có bốn cháu ngoại và cháu đầu 19 tuổi hiện đang học đại học ở Học viện Ngoại giao.

Trò chuyện với ông, với một nhà khoa học nổi tiếng nhưng sống giản dị, chân tình, cởi mở, tôi càng hiểu hơn hai chữ gia giáo, hiểu vì sao các con ông, cháu ông học hành giỏi giang, hiếu thảo như vậy.

Những câu chuyện từ trong gia đình, có sức lay động tâm hồn mà ông đã kể cho các con mình nghe là một cách dạy con thân tình mà có hiệu quả nhất.

Và không những thế, đó còn là những câu chuyện cho nhiều thế hệ, nhất là thế hệ trẻ hiện nay, những người sinh ra sau cách mạng, lớn lên trong hòa bình, để họ hiểu được một thời đạn bom máu lửa, hiểu được cái giá mà cha ông mình đã phải trả cho những ngày bình yên hôm nay. Cũng là bài học cho những người làm nghề y hiện nay. Những tấm gương sống đẹp của những người yêu nước, yêu dân, đã hy sinh, chịu đựng, để vượt qua tất cả trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc.

Tôi thiển nghĩ, đó cũng là những câu chuyện cụ thể, sinh động cho những thế hệ về sau…

Dương Kỳ Anh

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.