Giai thoại Mạc Đĩnh Chi - nhìn từ hôm nay!

Mạc Đĩnh Chi (1272 – 1346) là quan đại thần cũng đồng thời là nhà ngoại giao nổi tiếng thời Trần. Ông thi đỗ Trạng nguyên năm 1304, đời vua Trần Anh Tông. Chung quanh ông có nhiều giai thoại thú vị, mà đã là giai thoại thì có thật có giả, có hư cấu, thêm thắt, gán ghép.

Từ cái nhìn của đối thoại văn hóa hôm nay chúng tôi xin cố gắng phân loại cái nào gần với sự thật, cái nào có hạt nhân hợp lý... Dĩ nhiên chỉ là tham góp cá nhân với quan niệm và sở học có hạn, rất mong có sự chỉ giáo của các bậc túc Nho và độc giả đáng kính.

Tượng Mạc Đĩnh Chi ở chùa Dâu (Bắc Ninh).
Tượng Mạc Đĩnh Chi ở chùa Dâu (Bắc Ninh). 

Bài phú “Ngọc tỉnh liên phú” chắc chắn là thật vì được chép vào nhiều sách sử tin cậy. Bài này lấy ý tứ từ thơ Hàn Dũ (Trung Hoa) tả giá trị của cây sen: “Trên núi Thái Hoa, nơi giếng ngọc có cây sen/ Hoa nở mười trượng, ngó như thuyền/ Lạnh như tuyết sương, ngọt như mật/ Một miếng vào miệng, khỏi bệnh kinh niên”. 

Theo giai thoại, vì tướng người xấu xí nên triều đình không muốn lấy đỗ Trạng nên nhân có đợt sát hạch cuối cùng vua trực tiếp chấm bài thi để xếp danh vị cao thấp, Mạc Đĩnh Chi liền làm bài này. 

“Ngọc tỉnh liên” có nghĩa là “giếng ngọc có cây sen”. Trong bài cũng có ý khẳng định cái tâm tính tốt đẹp sẽ vượt qua mọi khó khăn: “Há rằng trống rỗng bất tài/ Thuyền quyên lắm kẻ lỡ thời thương thay/ Nếu ta giữ mực thẳng ngay/ Mưa sa gió táp xem nay cũng thường”. Vua Anh Tông khen hay, bèn thăng làm Thái học sinh, sung chức Nội thư gia.

Thông minh, văn hay, chữ tốt, học rộng, ứng đối sắc sảo, trôi chảy nên ông được cử đi sứ nhà Nguyên. Một lần vào miếu thờ Hạng Tịch ở Giang Đông ông đề thơ vịnh: “Chẳng phải vua mà chẳng phải tôi/ Bên sông miếu mạo đến lôi thôi/ Giang Đông ngày trước còn chê nhỏ/ Tiền giấy giờ đây muốn vạn lời” (bản dịch nghĩa). 

Hạng Tịch (232-201TCN) người đất Hạ Tương, vì phạm tội giết người mà trốn sang Ngô Trung. Gặp Lưu Bang cùng cảnh, cả hai giao ước anh em và bàn nhau cùng đi làm giặc. Vây cánh dần lớn mạnh, cả hai đều tự xưng vua để phá Tần diệt Sở. Trở thành cừu thù, Hạng Tịch phải tự vẫn mà chưa được làm vua đúng nghĩa (mới tự xưng). Hậu thế chê Hạng Tịch có chí lớn nhưng “vô mưu” lại tham nên “miếu mạo” không được chăm sóc chu đáo. Rất đúng với thơ Đĩnh Chi.

Khi đến quê Đào Tiềm (Giang Tây) ông cũng làm thơ vịnh: “Nếu phải khom lưng vì đấu gạo/ Trả ấn từ quan lộc chẳng màng/ Sớm hôm tâm sự dăm nàng liễu/ Tri kỷ kề vai chậu cúc vàng”. Đào Tiềm (365-427) nhà thơ nổi tiếng, làm quan huyện với lương tháng 5 đấu gạo. Chưa được 3 tháng ông bỏ quan về làm ruộng, trồng hoa cúc cất rượu, trồng liễu trước nhà. Bài thơ ngắn nhưng câu nào cũng gắn với phong cách Đào Tiềm.

Hai bài vịnh Hạng Tịch và Đào Tiềm rất có thể là thật!

Đi sứ nhà Nguyên bị người Tàu chê nói nhanh như chim và họ ra vế đối trêu chọc: “Quých tập chi đầu đàm Lễ luận, tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị chi” (Chim chích đậu đầu cành đọc sách Luận ngữ, biết nói biết, không biết nói không biết, thế là biết). Cái hóc búa của vế đối là các chữ (Hán) đều rút ra từ sách Luận ngữ và các âm rất gần nhau. 

Ông bèn lấy chữ từ sách Mạnh Tử đối, rất chuẩn: “Oa minh tri thượng độc Chu thư, lạc dữ thiểu nhạc lạc, lạc dữ chúng nhạc lạc, thục lạc”. (Ếch kêu trên bờ ao đọc sách Mạnh tử, vui cùng ít người vui nhạc, vui cùng nhiều người vui nhạc, đằng nào vui). Cái thâm thúy của vế đối là ngầm chê sự ít học của người ra vế đối (như ếch ngồi đáy giếng mà thôi!).

Bạn thân Đĩnh Chi là quan võ có hai vợ đều rất ghen, ông liền tặng câu đối: “Đông đầu Hán vương thắng, Tây đầu Hạ vương thắng, quyền tại túc hạ/ Chinh Đông, Tây dĩ oán, chinh Nam, Bắc địch oán, hà độc hậu dư” (Sang (phía) Đông vua Hán hơn, sang Tây vua Sở hơn. Quyền đi ở do bác/ Đánh Đông, rợ (giặc) Tây oán, đánh Nam rợ Bắc oán. Sao lại thế ư?). Câu đối khái quát thật dí dỏm, tinh quái về tình cảnh dở khóc dở cười của người “đa mang” không biết “phân thân” sao cho phải!

Đền thờ Mạc Đĩnh Chi.
Đền thờ Mạc Đĩnh Chi.

Một lần đoàn sứ bộ đến cửa ải Pha Lũy (tức ải Nam Quan) muộn nên cửa đã đóng. Đoàn ta ra tiếng xin qua, viên quan coi cửa bèn thử tài bằng câu đối: “Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan” (Qua cửa quan trễ, cửa quan đóng, mời khách qua cửa quan). Cái “độc” của vế ra là chơi chữ cùng âm “quan” nhưng vừa là người (quan) vừa là vật (cửa). Thật là không thể có vế đối nào tài tình hơn, sắc sảo hơn: “Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối” (Ra câu đối dễ, đối câu đối khó, xin tiên sinh đối trước). Cửa ải mở và sứ bộ được tiếp đón rất trọng thị!

“Đối” là hình thức thù tạc của văn hóa trung cổ phương Đông, để vui vẻ, để thử tài, để thăm dò, để khẳng định, uy hiếp... nên trong lĩnh vực ngoại giao được dùng rất phổ biến. Chỉ xét từ góc độ hình thức ngữ nghĩa thì ba chùm câu đối trên rất có thể là của Mạc Đĩnh Chi.

Người Nguyên trịch thượng tỏ ý coi thường sứ giả bèn ra vế đối “Nhật hoả vân yên, bạch đán thiêu tàn ngọc thố” (Mặt trời là lửa, mây là khói, ban ngày thiêu cháy vừng trăng). Mạc Đĩnh Chi liền đối lại “Nguyệt cung tinh đạn, hoàng hôn xạ lạc kim ô” (Trăng là cung, sao là đạn, buổi chiều tối bắn rụng mặt trời). 

Ý của vế ra là nước Nguyên (như mặt trời) là lửa sẽ đốt cháy nước nhỏ (như mặt trăng). Thế là cũng có ý tôn trọng nước nhỏ (như mặt trăng) nhưng hàm ý dọa dẫm. Vế đối lại thực sự “cao thủ” hơn vế ra: bắn rụng mặt trời. Câu này còn nhắc khéo nhà Nguyên lớn mạnh nhưng đã từng bị nhà Trần nhỏ bé đánh bại. Giai thoại kể vua Nguyên tức lắm nhưng không làm sao được vì vế đối rất chuẩn.

Rất có thể đây chỉ là giai thoại, vì người đi sứ cần mềm mỏng nhưng cương quyết, trước hết là giữ thể diện quốc gia sau là giữ mình, thì xét về nội dung và thái độ của người đối lại đã “phạm thượng”, “trêu gan”, “trêu tức” đối phương như thế thì rất dễ bị bắt tội. Vả lại chi tiết “vua Nguyên” trực tiếp nghe là khó xảy ra. Vì theo sử cũ, không phải ai cũng có thể được “đối thoại” với “vua” của một đế chế hùng mạnh như nhà Nguyên!

Một hôm Tể tướng Nguyên mời Đĩnh Chi vào phủ. Thấy bức trướng mỏng thêu hình con chim sẻ vàng đậu cành trúc, ngỡ là chim thực ông liền chạy đến bắt. Người Nguyên cười ồ rõ ý coi thường. Thấy vậy, Đĩnh Chi liền kéo bức trướng xé đi. Mọi người thấy lạ hỏi tại sao. 

Ông trả lời: “Tôi nghe người xưa vẽ cành mai và chim sẻ, chứ chưa thấy vẽ chim sẻ đậu cành trúc bao giờ. Nay trong bức trướng của Tể tướng lại thêu cành trúc với chim sẻ. Trúc là bậc quân tử, chim sẻ là kẻ tiểu nhân. Nếu như vậy là để tiểu nhân trên quân tử, sợ rằng đạo của tiểu nhân sẽ mạnh, đạo của quân tử sẽ suy. Tôi vì thánh triều mà trừ giúp bọn tiểu nhân”. Nghe vậy, mọi người đều phục tài của ông.

Đây hẳn là “giai thoại” vì bức tranh có thể sinh động “y như thật” nhưng chẳng có ai là khách (mà lại là sứ ngoại giao cần ý tứ) lại “ngây thơ” chạy đến “bắt”, nhất là với bậc uyên bác như Mạc Đĩnh Chi. Giai thoại này chỉ là để ca ngợi sự “nhanh trí” của nhân vật mà thôi.

Đang làm sứ ở kinh đô Yên Kinh thì triều Nguyên có tin dữ: công chúa duy nhất của vua Nguyên qua đời. Hẳn nhiên các đoàn sứ bộ ngoại giao phải có hình thức chia buồn. Bài văn tế có tên “Nhất” của Mạc Đĩnh Chi được đánh giá rất cao, vì nói đúng được hoàn cảnh (con một), vẻ đẹp tuyệt vời của công chúa, cái chính là văn hay, cảm động về sự mất mát lớn lao: “Thanh thiên nhất đóa vân/ Hồng lô nhất điểm tuyết/ Thượng uyển nhất chi hoa/ Dao Trì nhất phiến nguyệt/ Y! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết!” (Một đám mây trên bầu trời xanh/ Một bông tuyết trong lò lửa hồng/ Một bông hoa trong vườn thượng uyển/ Một vầng trăng ở cung Dao Trì/ Than ôi! Mây tán, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết!).

Chiểu theo lịch sử thì sự kiện công chúa vua Nguyên chết trẻ là có thật. Nội dung và hình thức bài văn tế cho thấy có thể khớp với sự kiện này. Nhưng giai thoại nói rằng Mạc Đĩnh Chi ứng khẩu đọc bài văn tế trong tang lễ theo “đề bài” duy chỉ có một chữ “Nhất” của triều Nguyên là khó xảy ra. 

Một, đây là sự kiện tầm cỡ quốc gia của “Thánh triều” nên sứ bộ phải chuẩn bị chu đáo, cẩn thận, nghiêm cẩn. Hai, chẳng bao giờ họ “đánh đố” người viếng ở một sự kiện đầy sự “bối rối” (là tang lễ lớn) như vậy. Ba, nội dung văn tế cho thấy tuy ngắn nhưng rất khó để “ứng khẩu” một tác phẩm mang tính hoàn chỉnh ở trình độ cao như vậy!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.