Giải mã bí ẩn, lạc vào mê cung

Có những bí ẩn càng cố gắng giải mã chúng ta càng bị lạc vào mê cung và càng không thể tìm ra đâu mới là sự thật. Đó chính là băn khoăn tôi đã đúc kết sau chuyến đi thăm ngôi Mộ Cự thạch Hàng Gòn tọa lạc tại xã Hàng Gòn, cách TP Long Khánh (Đồng Nai) 8km về phía Nam, trên trục Quốc lộ 56 hướng đi Bà Rịa -Vũng Tàu.

Ngày nay khi khoa học kỹ thuật phát triển, chúng ta dễ dàng xây dựng công trình kiến trúc đồ sộ. Nhưng bạn hãy thử tưởng tượng xem cách đây hơn 2.000 năm trước Công nguyên mà các vị tiền nhân của chúng ta có thể xây dựng một ngôi mộ hình hộp dài 4,2m, ngang 2,7 mét, cao 1,6 mét được ghép bởi 6 tấm đá hoa cương bào khá nhẵn ở mặt ngoài; bên trong đục đẽo sơ sài. Bốn tấm đá thẳng đứng dùng làm vách, hai tấm nằm ngang dùng làm mặt đáy và nắp.

Liên kết giữa các tấm đá hoa cương nhờ vào hệ thống rãnh dọc chắc chắn. Xung quanh mộ có nhiều trụ đá hoa cương cao 7,5 mét, tiết diện mặt cắt ngang hình chữ nhật dài 1,10m x 0,3m phần lớn các đầu trụ được khoét lõm hình yên ngựa. Điều đó cho thấy sức mạnh phi thường của cổ nhân.

Giải mã bí ẩn, lạc vào mê cung -0
Một số hiện vật được phát hiện trong di tích Mộ Cự thạch Hàng Gòn.

Ngôi mộ cổ đã thể hiện sự kỳ vĩ của chính mình và đã đặt ra biết bao nhiêu câu hỏi để các nhà khoa học, nhà khảo cổ và cả hậu bối chúng ta đi tìm câu trả lời: Làm cách nào mà người cổ xưa có thể vận chuyển những tấm đá, trụ hoa cương vốn thuộc về núi rừng, thời xưa với địa hình hiểm trở, đường thuỷ không có, cư dân cổ với những vật dụng thô sơ, làm cách nào có thể chồng các trụ đá, nâng các phiến đá to ghép thành hầm mộ độc đáo?

Theo các nhà địa chất học, đá hoa cương không được phát hiện ở Đồng Nai mà chỉ ở khu vực Đà Lạt hay Ninh Thuận ngày nay. Ai là chủ nhân ngôi mộ cổ đầy bí ẩn này? Biết tôi tò mò, đặt nhiều câu hỏi liên quan đến ngôi mộ cổ khi tới thăm, bác quản lý khu di tích đã cho tôi mượn đọc các tài liệu về công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, khảo cổ học đã viết về ngôi Mộ cổ Cự thạch Hàng Gòn. Tôi ồ lên thích thú và đọc ngấu nghiến tài liệu ngay tại đó.

Dưới thời Pháp thuộc, để phục vụ chính sách khai thác thuộc địa, chính quyền lúc bấy giờ đã nâng cấp, xây dựng nhiều tuyến đường giao thông huyết mạch để kết nối giữa Sài Gòn - Long Khánh, Long Khánh - Bà Rịa. Trong quá trình chỉ huy thi công làm tuyến đường Xuân Lộc đi Bà Rịa, viên kỹ sư người Pháp Jean Bouchot đã thấy một ngôi mộ bằng đá với những trụ nằm ngổn ngang trong địa phận đồn điền cao su W.Bazé thuộc Công ty Cao su Xuân Lộc (nay thuộc Nông trường Hàng Gòn, xã Hàng Gòn, TP Long Khánh). Ngay lập tức ông đã có báo cáo với Viện Viễn Đông bác cổ và được ủy quyền khai quật từ 14/4 đến ngày 16/5/1927.

Đứng ngay ngôi mộ cổ, đọc tài liệu khiến tôi tưởng tượng ra dáng vẻ của viên kỹ sư. Trong một ngày nắng như đổ lửa của vùng đất đỏ Bazan, Jean Bouchot đứng trước ngôi mộ cổ kính, nơi mà những bí ẩn của người xưa khiến ông thôi thúc khám phá. Tuy nhiên chính ông đã không tìm thấy dấu vết để giải đáp cho những câu hỏi. Trong ngôi mộ, không có một mảnh xương vỡ, không có một binh khí, không có một dụng cụ, không có một vật tư trang nào cả. Ông muốn khai quật rộng ra để khám phá. Tuy nhiên khi mùa mưa năm 1927 bắt đầu, những cơn mưa ào ào đổ xuống vùng đất đỏ bazan đã khiến cho cuộc khai quật gặp trở ngại và không thể tiếp tục. Dự định của viên kỹ sư giống như một giấc mơ dang dở.

Kể từ sau cuộc khai quật lần thứ nhất, di tích Mộ Cự thạch Hàng Gòn đã được nhiều nhà khảo cổ quan tâm. Sau Jean Bouchot, đến năm 1929, Henri Parmentier - người đứng đầu Sở Khảo cổ Đông Dương, tiếp tục nghiên cứu di tích Mộ Cự thạch Hàng Gòn thêm ba lần nữa.

Với bề dày kiến thức và sự so sánh tỉ mỉ giữa các loại hình Dolmen từ Úc, châu Đại Dương cho đến kiến trúc đá Đồng Phổ Sa Huỳnh và những ngôi mộ Chăm tại Ninh Thuận, ông đưa ra nhận định: “Đây không phải là một ngôi mộ đơn lẻ, mà là một hầm mộ chung, được thiết kế như một gian phòng rộng lớn và thấp, ẩn mình dưới lòng đất. Các trụ đá vững chãi được chôn theo hình nấc thang, dẫn lối xuống hầm mộ, như thể đang mời gọi linh hồn bước vào thế giới bên kia”.

Ông giải thích thêm: “Hầm mộ này từng là nơi an nghỉ của những vị thủ lĩnh và chiến binh quả cảm, những người đã hiến dâng cuộc đời mình cho cộng đồng. Cách thức chôn cất linh hoạt, với nắp mộ có thể di chuyển, cho phép mai táng theo nghi thức truyền thống, mỗi lần là một lễ tiễn biệt đầy trang trọng”.

Tuy nhiên chính ông cũng bối rối không biết làm cách nào người xưa có thể di chuyển các phiến đá nặng chục tấn như thế, cách sắp xếp, bố trí của hầm mộ được chính ông đánh giá khá độc đáo và chưa từng phát hiện trường hợp nào tương tự ở Đông Dương. Sau khi các nhà khảo cổ phát hiện nghiên cứu và được công bố rộng rãi, đến năm 1930, Toàn quyền Pháp đã nhanh chóng xếp ngôi mộ cổ vào các di tích lịch sử của Đông Dương và đứng thứ 38 trong bản danh sách di tích Nam kỳ.

Theo thời gian, mọi vật thay đổi. Phía trên hầm mộ có nhiều cây sung cổ thụ với tán lá xum xuê, dây leo chằng chịt, ngôi mộ trở nên hoang sơ, vắng lặng. Xuất phát từ tín ngưỡng dân gian “vạn vật hữu linh”, nên chỉ sau 2-3 năm khai quật ngôi mộ cổ, người dân đã đến đây thắp nhang, khấn vái và cầu xin được bình an trong cuộc sống. Sau này, chính dân bản địa đã xây dựng ngôi miếu nhỏ thờ ông Đá. Thuở ban sơ theo các vị cao niên mô tả, trên chỉ có một bàn thờ, chưng đèn, lư nhang và 2 tượng ngựa bằng gốm. Phía dưới bàn thờ có một đùn đất do mối làm nên ngày càng lớn, phủ dày, áp vào vách, để lại những hình thù kỳ lạ.

Sự hiện diện của đụn đất này là một trong những yếu tố được lưu truyền trong dân gian về sự huyền bí, linh thiêng của mả ông Đá. Người dân địa phương tổ chức lễ hội vía ông Đá vào ngày 13/9 âm lịch hằng năm, với mong cầu bình an, trước hết là cho những người đang sống trong khu vực Hàng Gòn. Và tổ chức lễ hội hàng năm đã góp phần làm giàu thêm tín ngưỡng dân gian cho vùng đất này, sau này người dân đã góp công, góp sức để xây dựng ngôi miếu thờ khang trang hơn.

Đến khi hòa bình lập lại, sau năm 1975 các cán bộ thuộc Ban Khảo cổ - Viện Khoa học xã hội đã phối hợp với Nhà Bảo tàng tỉnh Đồng Nai mở cuộc điều tra, khảo sát di tích Mộ Cự thạch Hàng Gòn. Tại hội nghị thông báo khảo cổ học năm 1982, Th.s Lưu Ánh Tuyết đưa ra nhận định: "Mộ Cự Thạch Hàng Gòn là một ngôi mộ táng chôn dưới hình thức hỏa thiêu được xây dựng vào thời kỳ Kim khí thuộc giai đoạn Đồng phát triển, có khả năng chuyển sang sơ kỳ đồ đá".

Sau hội thảo, đến ngày 24/12/1982, Bộ Văn hóa ban hành quyết định công nhận di tích Mộ Cự thạch Hàng Gòn là di tích khảo cổ cấp Quốc gia theo Quyết định số 147/VH-QĐ. Năm 2006, Ban Quản lý Di tích và Danh thắng Đồng Nai phối hợp trung tâm nghiên cứu khảo cổ thuộc Viện Khoa học xã hội vùng Đông Nam bộ tiến hành đào thám sát xung quanh khu vực mộ cổ Hàng Gòn và phát hiện ra những mảnh gốm cổ, theo đeo bằng đá, 2 chiếc tù và bằng đồng.

a2 (3).jpg -0
Di tích Mộ Cự thạch Hàng Gòn.

Các nhà nghiên cứu xác định những mẫu vật trên có niên đại sớm nhất là 150 năm trước Công nguyên (Thế kỷ thứ II TCN) và mẫu cho niên đại muộn nhất là 240 năm sau công nguyên (Thế kỷ thứ II SCN). Đến năm 2007, các nhà khảo cổ tiếp tục phát hiện ra những viên đá có hình giống mu rùa, các con lăn dùng để di dời những phiến đá nặng, bàn mài hình đá cát có vết mài hình lòng máng và một vết rãnh tròn. Ngoài ra còn phát hiện ra đồ gốm được làm từ đất sét pha cát và vỏ nhuyễn thể được nghiền nát, xương và áo gốm… Năm 2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2367/QĐ-TTg ngày 23/12/2015, xếp di tích khảo cổ Mộ Cự thạch Hàng Gòn là di tích Quốc gia đặc biệt.

Qua đọc các nghiên cứu và đánh giá, các nhà nghiên cứu đều cho rằng chủ nhân của ngôi mộ cổ này là thủ lĩnh, người có quyền lực cao nhất của cộng đồng, vì vậy mới có thể chỉ huy cộng đồng của mình tập hợp lại tạo ra sức mạnh phi thường di chuyển những phiến đá lớn như vậy. Những dấu vết gốm vỡ, đất cháy trong khu vực xung quanh mộ được các nhà nghiên cứu đưa giả thuyết phải chăng là hình ảnh các nghi lễ, phương thức mai táng của người xưa. Tuy nhiên, đó vẫn là giả thuyết, và những bí ẩn về ngôi mộ cổ vẫn đang chờ những khám phá mới của khảo cổ để có câu trả lời chính xác nhất.

Nhìn ngắm ngôi mộ cổ, nằm nép mình giữa những vườn trái cây bạt ngàn quả ngọt ở vùng đất Long Khánh, tôi không khỏi cảm thán về kiệt tác kiến trúc cổ độc đáo này, đây thực sự điểm du lịch hấp dẫn cho những ai ưa khám phá. Nhưng rồi bạn sẽ như tôi, lại u mê vào mê cung của những câu hỏi và vấn vương mãi khi chưa tìm được câu trả lời. Thế mới biết sức mạnh, ý chí, sức sáng tạo của người cổ xưa khiến hậu bối không dễ dàng giải mã.

Nguyễn Thắm

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.