Giả hạc xuân Di Linh

Người ta ví cao nguyên Di Linh (Lâm Đồng) là cô sơn nữ còn đang mộng du trong giấc mơ thần tiên. Đó là những con đèo quanh co trên độ cao 1000 mét tựa tranh vẽ trong rặng hoa dã quỳ vàng mơ. Những thung lũng dập dờn biển sóng hoa cà phê trắng xóa bên suối đàn đá vui reo. Và đâu đó hương của những vườn lan rừng ngan ngát ướp thơm cả con gió nhởn nhơ bay. 

Lộng gió cao nguyên

Di Linh là mảnh đất các nhà thám hiểm phát hiện đầu tiên trước Đà Lạt. Dấu chân của bác sĩ Alexandre Yersin (1863-1943) dường như vẫn còn ấm nóng trên mảnh đất bazan này hơn 120 năm qua. Từ Phan Rí ông đi bộ ngược dòng sông Mao gần một ngày trời mới tới Di Linh ở độ cao 1200 mét (tháng 7-1890). Ông ngủ lại với gia đình người K’ho dẫn đường và ăn cơm bốc tay với họ.

Di Linh ngày đó được hình dung: “Ngàn lau sậy êm đềm khép mắt/ Giữa hoang sơ trầm mặc mây ngàn/ Đầy yêu thương nắng vàng ngây ngất/ Thả trăm ngàn giọt mật miên man” (Nắng gió Di Linh-Hà Thu Thủy). Ba năm sau Yersin khám phá ra cao nguyên Lâm Viên (Đà Lạt-năm 1893). Ông cùng đoàn thám hiểm vạch ra những con đường từ Di Linh nối với Nha Trang, Sài Gòn, Bình Thuận và đi lên Đà Lạt. Chẳng bao lâu Di Linh trở thành cơ sở tỉnh Đồng Nai Thượng (11-1899).

Đây là vị trí thuận lợi có các đường mòn ngắn nhất đi về phía biển Đông. Hơn nữa lại nằm trong vùng thượng lưu sông Đồng Nai, cao nguyên Di Linh được coi là trung tâm hành chính phía Nam Tây Nguyên.

Mây núi điệp trùng cao nguyên Di Linh.
Mây núi điệp trùng cao nguyên Di Linh.

Thật thú vị, dấu tích căn nhà đầu tiên và cũng là trụ sở của quan Tỉnh trưởng, ở thị trấn Di Linh hiện vẫn còn nguyên bản. Kiến trúc sư Cunhac đảm đương công việc này theo thiết kế phong cách châu Âu. Những thiết bị và nội thất chính đều được mua từ bên Pháp. Chỉ có gạch ngói, cát và xi măng được mua từ Phan Thiết. Nhưng công việc chuyên chở vật liệu mới thật sự gian nan.

Lực lượng người dân tộc K’ho được điều động làm phu phen rất khắc nghiệt. Họ phải đi bộ từng đoàn để thồ gạch và vật liệu từ Phan Thiết lên Di Linh. Mỗi người gùi nặng trung bình 50kg trên lưng. Tất cả đều phải leo ngược dốc theo con đường mòn kéo từ biển lên dài 71 cây số. Nhất là con đèo Gia Bắc (nay là đường số 8) trập trùng qua dẫy núi cao. Đồng bào Thượng gọi đây là con đèo máu và không ít người đã đói lả kiệt sức và chết gục trong rừng.

Ngôi nhà hoàn thành vào cuối năm 1900. Đó là trụ sở hành chính đầu tiên của cả khu vực Nam Tây Nguyên. Cho đến nay ngôi nhà vẫn tồn tại và trở thành trụ sở văn phòng hành chính quận Di Linh (Lâm Đồng). Dấu tích gắn với ngôi nhà 120 năm này là con đường mang tên Đam Trang. Già làng Đam Trang là người có công quy dân lập ấp Di Linh. Ông đôn đốc trông nom công việc vận chuyển vật liệu xây ngôi nhà hành chính đầu tiên cho tỉnh Đồng Nai Thượng ngày đó.

Con đường vẫn được giữ tên cho đến nay như một ký ức không phai mờ của người dân cao nguyên Di Linh. Nhìn ngôi nhà trên đường nghiêng dốc bên góc phố ngày nào tôi bỗng nhớ đến những câu thơ của thi sĩ Lê Huy Nguyên (Lâm Đồng) viết: “Góc phố Di Linh/ Quán vắng/ Ly cà phê nhỏ giọt/ Giọt cà phê nhuộm chiều nâu sẫm/ Gấp hoàng hôn/ Góc phố cong mình” (Góc phố). Ngôi nhà là di sản của những ngày còn thuở hoang sơ được lưu giữ trong tâm cảm của người dân Di Linh. 

Chàng Liang Đăm và những dũng sĩ diệt Mỹ

Nói đến Di Linh là du khách đều biết tới thác Bobla nằm ở xã Liên Đầm. Dòng nước rộng 20 mét chảy từ con sông Đạ Riam ở độ cao hơn 50 mét nên vang động cả núi rừng. Nguồn nước Đạ Riam dồi dào và xoáy cuộn nên đã khoét rỗng chân núi tạo thành một hồ nước rộng và sâu. Đây là dòng thác chảy xiết và dữ dội quanh năm.

Người dân tộc K’ho coi thác là biểu tượng của lòng dũng cảm và bất khuất của chàng trai Liang Đăm sống ở trong buôn. Chàng có sức mạnh vô địch đã nổi dậy chống quân Chăm xâm lược (thế kỷ XIII). Một lần quân Chăm tấn công vào bản làng. Mọi người đều hoảng hốt bỏ chạy. Chàng trai Liang Đăm đã cùng nghĩa binh chặn đánh giặc Chăm. Chàng đã bẻ cành cây Trâm xông thẳng vào quân địch mà đánh tới tấp. Giặc Chăm hoảng hốt lui quân. Liang Đăm truy đuổi đến cùng. Chiến thắng trở về chàng Liang nhập vào dòng thác và biến mất. Huyền tích ấy vẫn còn lưu dấu bên con sông Đạ Riam (bắt nguồn từ núi cao ở xã Sơn Điền)

Câu chuyện sông Đạ Riam còn được kể lại về những dũng sĩ diệt Mỹ của xã anh hùng Sơn Điền. Đặc biệt trận đánh lịch sử trên dòng sông Đạ Riam cho dù đã hơn nửa thế kỷ qua vẫn còn vang vọng bản anh hùng ca của dân tộc người K’ho. Trận chiến đã xảy ra vào tháng 4-1969. Trong lần giặc Mỹ đi lùng sục bao vây chiến sĩ ta nhưng vì trời tối nên dừng quân bên sông Đạ Riam. Chúng căng lều bạt và đào công sự trên một khu đất rộng lớn.

Tám mươi tên lính Mỹ cùng đồng bọn hung hăng hòng tiêu diệt lực lượng kháng chiến ở vùng tự do giáp ranh Sơn Điền. Các chiến sĩ lập tức lên phương án tập kích kẻ địch một cách bất ngờ. Hai mũi giáp công bí mật hành quân lội ngầm vượt thác Đạ Riam. Nửa đêm đội đặc công ngụy trang đi theo đường sông bò vào tận lều trại của Mỹ. Đợi cho giặc ngủ say để bày binh bố trận. Chúng còn nghĩ quân đội ta chỉ có độn thổ may ra mới vào được chỗ chúng đóng trại.

Trẻ em người K'ho ở Di Linh.
Trẻ em người K'ho ở Di Linh.

Đúng canh năm, quân Mỹ chui lên từ công sự thì các chiến sĩ cho nổ mìn đã cài sẵn giữa lán trại. Tiếng mìn nổ là báo hiệu cuộc tấn công chớp nhoáng của các chiến sĩ đặc công phối hợp với bộ binh. Hai mũi giáp công thần tốc, trong đánh ra, ngoài đánh vào. Những công sự lính Mỹ đều là mồ chôn xác chúng. Lính Mỹ không kịp trở tay và hoảng sợ trước những dũng sĩ người K’ho. Chỉ trong vòng ba mươi phút 80 tên lính Mỹ hoảng sợ tan tác. Chúng bị dồn xuống sông Đạ Riam tháo chạy trong vô vọng. Xác lính Mỹ nhuộm đỏ khúc sông. Chỉ còn vài ba tên sống sót chạy dọc bờ sông hướng về Bảo Lộc để lại toàn bộ trang bị và vũ khí tối tân mang theo.

Chiến khu Sơn Điền nổi danh từ thời chống Pháp với 140 chiến sĩ người K’ho dũng cảm. Họ đã đứng lên kháng Pháp từ năm 1942 và trở thành địa chỉ đỏ của vùng tranh chấp với địch trong từng gang tấc. Sơn Điền còn nổi tiếng với chiến công tiêu diệt 111 tên lính ngụy và hai tên sĩ quan Pháp khi tấn công vào đồn Gia Bát (gần thị trấn Di Linh) vào 7-4-1954. Đội du kích Sơn Điền còn phối hợp với các đơn vị khác chặn đánh nhiều cuộc đi càn của giặc Pháp vào địa phận tự do trên sông Đạ Riam.

Với truyền thống yêu nước, các dũng sĩ K’ho phát huy chiến công đánh giặc trong suốt nửa thế kỷ và được Nhà nước phong danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 1994. Thi sĩ Hoàng Nhuận Cầm có lần tới Di Linh đã cảm xúc: “Mai anh về thở gió Di Linh/ Em ngồi nhớ trong thành phố cổ/ Mưa làm dấu dọc đường quốc lộ/ Gốc cây me máu chảy tên mình” (Di Linh cảm mến)

Đàn đá và vườn lan Giả Hạc

Di Linh còn được ghi dấu ấn đặc sắc ở bộ đàn đá được khai thác ở suối Đạ Riam. Đây là bộ đàn đá cổ mà người K’ho gọi là đá kêu. Bởi có phiến đá nghe như tiếng người mỗi khi có tiếng đánh ngân rung. Già làng Kbram là người phát hiện ra bộ đàn đá này. Những nhà khảo cổ cho biết đây là bộ đàn đá thời tiền sử và đã từng được con người chơi nên có sự tô điểm rất chi tiết. Đó là món quà trời ban cho người K’ho nơi thung lũng hoa vàng.

Nhắc đến hoa ở cao nguyên Di Linh ai cũng nhớ đến giống Giả Hạc Lan rừng. Giống này thường trổ hoa vào mùa xuân nên thường gọi là Giả Hạc Xuân. Bởi lẽ đa số loại Giả Hạc ở các vùng khác chỉ nở hoa vào mùa hè. Giả Hạc Lan quý nhất là loại hoa tím và trắng. Riêng Giả Hạc năm cánh trắng ở Di Linh rất có giá trị tới hàng chục triệu đồng. Có giò quý hiếm lâu năm nhiều nhánh được bán tới trăm triệu không bớt một xu.

Nghe thật khó tin nhưng theo nghệ nhân Knam (ở thị trấn Di Linh) cho biết đó là sự thật. Bông lan Giả Hạc năm cánh trắng tượng trưng cho hình ảnh “Nàng tiên Di Linh” còn đang ngủ vùi trong những áng mây trên núi cao mơ màng.

Vương Tâm

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.