Gặp tác giả “Người yêu nước mình” ở Huế

Tôi nhớ mãi kỷ niệm một buổi sáng mùa hè tôi cùng nhà thơ Mai Văn Hoan đến thăm Trần Vàng Sao. Nhà ông là một ngôi nhà cổ ở phường Vỹ Dạ (thành phố Huế). Điều ấn tượng đầu tiên với tôi là ông có một thú vui treo rất nhiều lồng chim cu gáy ngoài hiên và trong nhà có rất nhiều tranh Bồ Đề Đạt Ma do ông vẽ.

Lúc chúng tôi đến, Trần Vàng Sao đang vẽ. Ông vẽ dưới nền nhà, ngồi xổm vẽ, ông vẽ sau các tờ lịch cũ bằng bút chì, mực nho và các bột màu rẻ tiền. Điều lạ là so với các tranh về Bồ Đề Đạt Ma thì tranh vẽ của ông Sư Tổ Đạt Ma có vẻ phong trần hơn, ánh mắt sắc tướng hơn, không  đạo mạo như trong sách Phật. 

Có một điều lạ là dưới các bài thơ của mình ông ký Trần Vàng Sao khá bay bổng thanh thoát, còn dưới tranh vẽ thì ông ký hai chữ Nguyễn Đính (tên thật) thật khiêm nhường ngay ngắn.

Nhà thơ Trần Vàng Sao đọc thơ chép trong sổ tay.
Nhà thơ Trần Vàng Sao đọc thơ chép trong sổ tay.

Ông vẽ chính là rèn đúc cái tâm không một chút xao động trước lời mời hứa hẹn công danh tên tuổi tiền bạc. Ví như biết ông là tác giả “Bài thơ người yêu nước mình” nổi tiếng, nhà thơ Nguyễn Hoa lúc ấy là Trưởng ban Tổ chức hội viên Hội Nhà văn Việt Nam đã không dưới hai lần mời ông viết đơn gia nhập Hội. Thế nhưng ông từ chối.

Khi chúng tôi vào nhà, câu đầu tiên ông chỉ tôi và hỏi: Chú này là ai? Nghe Mai Văn Hoan giới thiệu tôi, ông mới vui vẻ mời vào và lấy ra cuốn sổ tay vở học trò có những dòng kẻ ngang ghi nắn nót: "Ngày... tháng... năm... có...  đến chơi" rất cẩn thận.  Nhà thơ Mai Văn Hoan hỏi: "Dạo ni ông có hay sang ông Điềm chơi không?". Trần Vàng Sao có vẻ hể hả: "Thỉnh thoảng có khách văn đến chơi, ông Điềm gọi tôi sang rồi ông ấy lại cho tiền".

Có một nét riêng biệt là Trần Vàng Sao thật hồn nhiên khi ông đọc những câu thơ vui “hơi sái”. Vừa đọc ông vừa cười cười như phiêu sang một cõi khác thì bỗng giật mình lẩm bẩm: "Ua chầu  chầu…" nhìn trước nhìn sau như sợ có ai nghe thấy. Thường, thơ ông buông xuống bản thảo những câu gấp gáp nặng trĩu như những tiếng thở dài cho mình và cho người, ít khi chú trọng niêm luật và nhạc tính.

Hình như tứ thơ được đẩy ra thoát lộ gấp gáp bút mực riết róng mới kịp ghi lại được. Còn thơ đọc cho bạn bè thì lại là những dòng lục bát tưng tửng kiểu như: “Không nhớ tháng, không nhớ ngày/ Nửa đêm thức  dậy chống tay ngó trời/ Bây giờ cho tới cuối đời / Thì tôi cũng cứ như tôi thế này”. 

Ngó qua, Trần Vàng Sao tướng mạo hơi khác người nhưng thật ra thì ông hiền khô, quanh năm quần áo nâu như một lão nông thứ thiệt. Tôi rất thích kiểu “nói thơ” của ông nói với bao chiêm nghiệm. Tôi thấy một điều lạ là ông không đọc những bài thơ nổi tiếng của mình, chỉ ứng khẩu rất tài tình những câu thơ vui. Cứ tưởng ông nói năng huyên thuyên nhưng ẩn sâu bên trong là sự tự tại của một vị thiền sư.

Khi nghe tôi gắng hỏi về sự ra đời của “Bài thơ của một người yêu nước mình” - đứa con tinh thần đã làm nên một thương hiệu, chính hiệu Trần Vàng Sao. Ông kể: Cuối năm 1967 ông bị sốt rét nặng phải vô trạm xá chiến khu đóng trên A Lưới. Lúc ấy Ban Tuyên huấn Thành ủy đang làm tập văn thơ “Nổi lửa” chuẩn bị tuyên truyền cho cuộc Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân.

Anh em vào viện hỏi ông: Có bài gì không để in. Ông viết ngay một mạch được bài thơ 120 câu toàn chuyện của đời mình. Họ in ở chiến khu, sau đó đưa về Huế hàng ngàn bản cho lực lượng hoạt động nội đô phát hành vào tháng 12 năm 1967.  Lúc đầu ông ký là Trần Sao nhưng sau đó sửa lại là Trần Vàng Sao, vì lúc nghe tổng tiến công thì sướng quá, cứ ngỡ thắng lợi đến rồi.

 Trưa đó, chúng tôi có nhã ý mời ông ra bờ sông Hương ở quán bia khách sạn Hương Giang cũng ở phường Vỹ Dạ nhưng ông nhã nhặn từ chối vì ông bảo rượu say rồi, mà mồi thì có dùng được chi nữa vì răng hết rồi còn lợi thôi.

Tiễn chúng tôi ra cổng, khi đứng giữa sân, biết chúng tôi ngỏ ý chụp ảnh lưu niệm, ông vui vẻ khoác vai tôi như hai người bạn đồng niên tri kỷ thật thỏa mái và chân tình. Khi nhìn thấy bà Hay vợ ông đi qua, tôi  ngỏ ý muốn chụp bức ảnh với hai ông bà nhưng ông gạt đi không biết lý do gì. Bà Hay có khuôn mặt đầy đặn, phúc hậu, cả một đời quên mình nuôi ông và các con ông trưởng thành.

Có một điều trùng hợp ngẫu nhiên và cảm động là nhà thơ Trần Vàng Sao mất ngày 9/5/2018 vì bệnh gan (thọ 77 tuổi) thì chưa đến ngày thất tuần, bất ngờ ngày 30/5/2018 bà Võ Thị Hay (sinh năm 1951) cũng qua đời vì nhiễm trùng máu. Thế là vợ chồng “Người yêu nước mình” cùng dắt tay nhau vào cõi  tạm...

Tranh “Bồ Đề Đạt Ma” của Trần Vàng Sao.
Tranh “Bồ Đề Đạt Ma” của Trần Vàng Sao.

Tôi và nhà thơ Mai Văn Hoan ngồi với nhau bên cốc bia Huế mà tâm trí cứ hướng về hình ảnh thi sĩ Trần Vàng Sao. Chợt tôi nảy ra ý định đi thăm nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm cũng là một người “yêu nước mình” nổi tiếng với chương “Đất nước” trong trường ca “Mặt đường khát vọng”. 

Tôi nhìn đồng hồ lúc đó mới 1 giờ chiều nhưng Mai Văn Hoan sốt sắng rút diện thoại gọi cho ông. Tôi ngăn lại: "Giờ này nhà thơ đang nghỉ trưa, ta có làm phiền không?". Mai Văn Hoan vui  vẻ: "Không việc chi đâu, ông Điềm từ ngày về đây với chúng tôi như bạn bè mà, có ta đến chơi chắc  ông vui lắm"...

Khi chúng tôi đến do báo trước nên cánh cửa nhà ông mở rộng, xe máy Mai Văn Hoan cứ thế chở tôi vào tận sân. Tôi chú ý vườn ông trồng rất nhiều chuối, loại chuối ngự, chuối ngày xưa tiến vua. Và đặc biệt trước nhà ông có hai cây Sa La cao vút, loài cây này tôi đã từng gặp ở vườn thượng uyển trong chuyến đi Ấn Độ. Trong kinh Phật có hai loại cây được xem là linh thiêng và thường nhắc đến là cây Bồ Đề và cây Sa La. Dưới tán cây Sa La ở vườn Lâm Ti Ni (Lum bi ni) Đức Phật được sinh ra và Ngài cũng nhập định dưới cây Sa La tại Câu Thi La (Kusinara). Cây này còn được gọi là cây Vô Ưu, là cây thiêng hoa nở rất đẹp. Thấy tôi chăm chú nhìn hai cây Sa La, nhà thơ cho biết: Đó là hai cây bộ đội tình nguyện Việt Nam mang từ Campuchia về tặng ông với ý nghĩa, cây Sa La là nơi Phật sinh ra cho ta nhớ về nơi  chôn rau cắt rốn, nhớ để bảo vệ từng tấc đất Tổ quốc mình.

Nhà ông là một ngôi nhà cổ được cải tạo lại mái ngói thẫm màu. Giữa nhà là bàn thờ tự với đầy đủ đồ tế tự của một ngôi nhà rường truyền thống xứ Huế. Trên bàn thờ có mấy hàng bài vị với những ảnh thờ phóng to xếp theo thứ bậc. Quả là liệt tổ, liệt tông, một dòng họ nhiều đời từ triều đại phóng kiến đến giờ, đều giữ những cương vị đáng nể.

Tôi chú ý một bức ảnh người phụ nữ  khuê các - đó chính là nữ sỹ Đạm Phương, bà nội nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm. Ông Điềm chỉ vào bức ảnh mà tôi thấy quen quen: "Ba mình đó!". Vâng đó là cụ Hải  Triều Nguyễn Khoa Văn - Nhà báo - nhà lý luận Mácxít hàng đầu Việt Nam, người từng gây cuộc tranh luận nổi tiếng “Nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh” với Hoài Thanh, Thiếu Sơn, Lưu  Trọng Lư những năm 1935 – 1939 …

 Khi thấy tôi hỏi: "Trường ca “Mặt đường khát vọng”, trong đó có chương “Đất nước” nhà thơ viết hồi nào", ông nói: "Hồi ấy Tuyên huấn Quân khu ủy Trị Thiên triệu tập anh em chúng tôi lên rừng ở một trại sáng tác có Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Trần Vàng Sao… tôi viết trường ca xong đọc cho anh em nghe. Anh Trần Hoàn phụ trách trại rất ưng ý, nhất là chương “Đất nước”.

Nhạc sỹ Trần Hoàn cũng là người phổ nhạc bài hát lời thơ của tôi: “Lời ru trên nương”. Hồi đó gian khổ mà vui, trong lòng mình luôn hừng hực khí thế xuống đường  hòa nhịp với dòng chảy cuộc sống đô thị Huế. Từ ngày nghỉ hưu về Huế, ngoài chuyện làm thơ đọc sách, mối quan tâm lớn nhất của ông là các vấn đề văn hóa.

Ông cười thoải mái: "Bây giờ thì tôi còn “chường” cái mặt tôi trong thơ. Thơ thì phải nói thật lòng mình không thể giấu mình, không thể nói dối". Khi biết chúng tôi sáng nay vừa đến thăm nhà thơ Trần Vàng Sao, ông vui lắm: "Đôi khi có rượu ngon có khách mình thường cho người sang mời anh Đính (tên thật của nhà thơ Trần Vàng Sao). Anh đạp xe đến liền.

Thấy khách văn nghệ vui vui thì anh nhập cuộc vui vẻ. Nhưng thấy khách lạ là anh Đính bước ngay xuống nhà bếp ngồi chơi với người nhà của tôi. Mỗi khi được uống rượu Tây, anh Đính cứ nâng lên đặt xuống nhìn cái nước rượu màu hổ phách thơm lừng với cái nút gỗ sồi quý tộc.

Anh cứ hít hà: Ui chầu chầu ngon quá đã quá he"… Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm cao hứng đọc cho chúng tôi nghe một bài thơ viết cho Trần Vàng Sao: “Bạn  cũ đến chơi/ Chép miệng  sống cũng  tạm được/ Phải cái hơi móm/ Cười trống trơ như/  Đỗ Phủ/ Nhìn nhau thương con mắt/ Còn lung lay ngọn lửa rừng – Thời bom đạn…”...

Gần đây, tôi có dịp trở lại Huế lại cùng nhà thơ Mai Văn Hoan đến thắp hương cho thi sĩ Trần Vàng Sao. Cánh cổng cũ đã được xây lại thành cổng mới, tường mới. Nhưng vẫn còn đó con số 38 nổi cộm hằn lên cổng  ngõ. Tôi lặng lẽ đến bên bàn thờ hai vợ chồng ông. Trong hương khói trầm thơm, nhà thơ nhìn tôi vẫn đôi mắt tinh anh, hấp háy cười thật sinh động. Lung linh nến, lung linh sinh khí tỏa ra từ căn nhà nhỏ ấm cúng này. 

Vâng ông vẫn nhìn thấu đời khi mà: “Tôi yêu đất nước này lầm than / Mẹ đốn củi trên rừng cha làm cá ngoài biển/ Ăn rau rìu, rau có, rau trai/ Nuôi con người từ khi mở đất / Bốn nghìn năm nằm gai  nếm mật/ Một tấc lòng cũng  trứng Âu Cơ/ Một tiếng nói cũng đầy hồn Thánh  Gióng…”. (Bài thơ của một người yêu nước – Trần Vàng Sao).

Hà Tĩnh, ngày 8 tháng 8 năm 2018

Nguyễn Ngọc Phú

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.