Gặp lại nhà thơ Lê Va

Thơ Lê Va, theo tôi, là thơ từ quan sát và suy nghiệm. Mới đọc, ngỡ như “cũng như ai ai thôi”, nhưng thật ra, ông quan sát kĩ và tinh, ông suy nghiệm từ một vốn liếng văn hóa dày dặn ở một người có cốt cách văn nhân thuần hậu, nên mới viết ra được như thế...

Đã mấy lần tôi tự hỏi: Không biết nhà thơ Lê Va đã viết những câu, những dòng này vào khoảng thời gian nào?

1. “Người tù/ nháo nhác tìm hoa dại/ nâng niu chút xuân còn sót/ chuyền tay đến với bạn tù…/ Lần kẽ tường run run tay cắm/ hoa khôn từ gạch đá mọc ra/ hoa ơi thơm như không thể/ thơm hơn như thế bao giờ…”.

Đây là mấy dòng mấy câu tôi chép từ bài “Một cuộc sinh nhật”, nhà thơ viết/ kể/ tả về một cuộc sinh nhật do tù nhân tự tổ chức với nhau trong trại giam.

2. “Đàn chim/ Rủ nhau về lùm cây/ Không phải để che mưa/ Không phải để tránh nắng/ Cũng không phải để vạch lá tìm sâu/ Chúng dùng lá cây làm vở/ Mỏ làm bút/ Tiếng hót làm mực/ Vẽ sơ đồ của Tự do và Thanh bình.

Loài người/ Tranh nhau chạy vào lùm cây/ Để che mưa/ Để tránh nắng/ Để bới lông tìm vết/ Và dùng thân cây làm điểm tựa/ Giương súng bóp cò.

Tự do hoảng loạn bay đi/ Thanh bình tan trong khói súng”.

(Nghịch lý)

Đại tá, nhà thơ Lê Va.
Đại tá, nhà thơ Lê Va.

3. Ở bài “Người vùng cao đón khách” Lê Va viết: “Khách đến/ Cứ làm bạn với ghế mây cái đã/ Chủ nhà lặng im/ Tiếp sức cho lửa/ Đón nước vào bếp/Lửa hát/ Nước reo…”. Rồi mới cất lời thăm hỏi cha mẹ, anh em… theo “nói lời dốc đứng, cử chỉ khúc khuỷu” mà “Tình đầy như mây trắng quanh năm/ bụng trong như mùa thu suối sớm…/ Chén rượu chao mang/ nhìn sâu mắt khách/ bắt tay nổ đốt/ người vùng cao cười/ nụ cười của em bé trong nôi”.

Thơ Lê Va, theo tôi, là thơ từ quan sát và suy nghiệm. Mới đọc, ngỡ như “cũng như ai ai thôi”, nhưng thật ra, ông quan sát kĩ và tinh, ông suy nghiệm từ một vốn liếng văn hóa dày dặn ở một người có cốt cách văn nhân thuần hậu, nên mới viết ra được như thế.

Vào một buổi tối cuối mùa thu năm trước, tôi dạo bước một mình dọc theo con đường cao cao chạy song song với sông Đà. Rì rào nước và thì thào gió, miên man lao xao tiếng nói từ đâu đó vọng lại… Thốt nhiên, tôi nhớ đến bài “Tản bước sông đêm” của Lê Va: “Tôi đi bộ/ dọc bờ sông/ ngay mép nước/ Một chiếc thuyền/ đỏ đèn dò la vượt cá/ vài người quăng câu/ dẻo tay cuộn cước/ chuyện đêm hay ngày/ hình như không đáng bàn ở đây…./ Tôi đi bộ dọc bờ sông đêm nay/ để mai còn đi đó đi đây/ và cố tránh cái điều/ cá không tránh được”.

Quay về phòng, giở sách ra đọc lại, tôi tự trả lời câu hỏi trên của mình, rằng: Lê Va đã viết những câu, những bài đã tạo ra ấn tượng từ các lần đi bộ một mình trong đêm như thế thì phải? Lê Va đặt chân vào làng văn nghệ Việt Nam đương đại bằng thơ. Đến năm tròn sáu mươi tuổi đời, ông Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật  tỉnh Hòa Bình này đã có 7 tập thơ là: “Nắng giao thoa”, “Nhịp đập hai mùa”, “Chớp núi”, “Khúc thức”, “Tha thẩn xanh”, “Lên núi tìm trầm”, “Bức đại tự đỏ”; 3 tập bút ký là: “Làng rừng đang phố”, “Người không bị lãng quên”, “Về gần”.

Ta hãy thử dừng lại với thơ của Lê Va.

Tập đầu – “Nắng giao thoa”, xuất bản cuối năm 2000, tập gần đây nhất – “Bức đại tự đỏ”, xuất bản cuối năm 2018. Tôi không muốn nói rằng 18 năm, có mặt với thi đàn bằng 7 tập là nhiều hay ít, bởi trong sáng tác sáng tạo thơ ca, ít hay nhiều bài nhiều tập chưa nói được gì thật rõ về một tác giả, nhất là đối với những người đang viết, chưa có dấu hiệu của sự chững lại (có người còn nói: Lê Va là nhà thơ của vài chục năm đầu thế kỷ XXI này- ra ý rằng Lê Va là nhà thơ trẻ như một cách nói đã quen từ nửa thế kỷ nay).

Tôi muốn nói với bạn: Ngay từ đầu, thơ Lê Va đã là thơ già dặn, nhiều bài trong tập “Nắng giao thoa” là như vậy. Chẳng hạn, bài “Trách”, nhà thơ viết thế này: “Em cười/ đầy một giếng tươi/ lúng la lúng liếng/ Trăng phơi hoa cài…/ Thương sao hôm/ nhớ sao mai/ trời đêm xanh thế/ an bài sao đang”.

Hay ở một bài nữa, là bài “Buồn vắng”, xin được chép chọn ra đây để ta cùng thưởng thức: “Cái vắng thắt vào lưng/ cái buồn chui vào tóc/ ngổn ngang là cái nhọc/ tóc tách thời gian trôi…/ Thềm tôi chẳng phong rêu/ người ơi, người chẳng đến/ tôi con thuyền không bến/ ngậm nỗi buồn mênh mang…/ Sâu thẳm là đam mê/ tái tê là trống vắng/ và từ trong im lặng/ tiếng mọt gặm nỗi buồn”.

Thơ Lê Va ngay từ đầu đã rất hiện đại, mà có âm hưởng cổ truyền. Nếu nói ông là “nhà thơ của thế kỷ XXI”, là ở cái ý này, cái thành công này mới phải. Tìm đọc các tập thơ của Lê Va, ta nhận ra sự phong phú trong đề tài, sự chuyển đổi của cách viết. Khó mà nói cho ngay gọn là thơ ông thành đạt hơn cả là ở nội dung nào với cách cấu tứ nào. Riêng tôi thì thấy và cảm được nhiều hơn là một loạt bài ông viết về gia đình như: “Mẹ tôi”,“Bố tôi”, “Nhớ bà”, “Mẹ nói nhỏ”, “Nhớ mẹ”… mà nổi bật hơn cả, tiêu biểu hơn cả cho sự độc đáo của thơ ông, là bài “Ông tôi”.“Chập tối/ ông tôi lại lau bóng đèn/ hăm hở như chuẩn bị làm rạng rỡ thêm trái đất/ đổ thêm dầu vào đèn/ để kéo dài sự sống của lửa”. Và: “Trước bình minh/ ông tôi lại thánh thót thức gió/ và không biết giông tố bao giờ/ sự kiên trì không bao giờ vô ích/ là sự kiên trì rèn cặp một mầm sen…”.

Khoảng mươi năm trở lại đây, bên cạnh sáng tác thơ và điều hành hoạt động của Hội Văn học Nghệ thuật Hòa Bình, Lê Va còn sưu tầm và nghiên cứu về văn học - văn hóa quá khứ ở Hòa Bình. Được sự cộng tác của nhiều người trong và ngoài tỉnh, hoạt động này của ông và của Hội Văn học Nghệ thuật Hòa Bình đã gặt hái một số thành quả tốt đẹp.

Những tác phẩm của Đại tá, nhà thơ Lê Va.
Những tác phẩm của Đại tá, nhà thơ Lê Va.

Tháng 8 năm 2015, Lê Va đã công bố công trình “Truyện thơ Đinh Công Trinh - một văn bản văn học quý của người Mường ở Hòa Bình” (NXB Văn hóa dân tộc). Tham gia Hội thảo về công trình này, tôi có điều kiện để nói là: Lê Va và các cộng sự của ông đã có công đầu khi khẳng định rằng người Mường (ở Hòa Bình) đã có văn học viết khá sớm, đó là “Truyện thơ Đinh Công Trinh”, được hoàn thành vào ngày đầu tháng, đầu mùa thu năm 1832, đến năm 1885, truyện thơ này được Đinh Công Thái sao lục lại, rồi vào khoảng 1956 - 1962, Đinh Công Niết đã nhờ nhà Nho học Xuân Dương Nguyễn Văn Áng dịch từ chữ Nôm ra chữ Việt. Tác phẩm dịch ra thơ lục bát này có 358 câu.

Vậy là, từ vị trí một Đại tá Công an làm thơ mà thành một ông Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh, Lê Va đang trở thành một nhà nghiên cứu có thành quả đáng kể ở lĩnh vực mới này. “Tại sao ông làm được thế?”, trả lời câu hỏi này của bạn bè, nhà thơ - nhà nghiên cứu nhẹ nhàng cho hay: Ông đã sống ở Hòa Bình khoảng 60 năm và cùng tìm hiểu và sống với đồng bào Mường, đồng bào Thái, đồng bào các dân tộc khác ở đây, ông càng yêu quý họ, càng tin rằng họ dứt khoát đã có một kho tàng văn chương văn hóa được viết ra, chẳng qua là ta chưa tìm kiếm sưu tầm và chỉnh lý được mà thôi…

Lê Va chỉ nói thế, nhưng tôi hiểu là ông đã có quyết tâm lớn từ một tình yêu, từ một nhãn quan khoa học, và cả một khả năng tập hợp lực lượng nữa… Khi tôi viết những dòng này về Lê Va, thì cũng lại nhận được một tin vui: Trong dịp đón Xuân Canh Tý vừa qua, NXB Thanh niên đã cho ấn hành tập sách ảnh “Bờ xưa” do Lê Va làm.

Sách ảnh “Bờ xưa”, tác giả đã công bố 68 bức ảnh quý là: “Bản đồ tỉnh Bờ” (gồm một phần của tỉnh Hòa Bình ngày nay) do người Pháp vẽ và chụp cách nay chừng 130 năm; ảnh phong cảnh vùng chợ Bờ, Thác Bờ… ảnh sinh hoạt của cư dân vùng này được chụp từ cách đây khoảng nửa thế kỷ và trước ngày vùng thác Bờ, chợ Bờ, phà Bờ, phố Bờ, đền Bờ… chìm dần xuống đáy sông Đà để thành đập của hồ nước làm Thủy điện Sông Đà. Đi cùng các tấm ảnh này là 3 bài biên khảo về địa chí của tác giả và 1 bài hồi ức - kỷ niệm về vùng tỉnh Bờ xưa (do Bùi Văn Chức viết).

Với hai công trình trên, nhà thơ Lê Va đã có thêm đóng góp cho hoạt động nghiên cứu và sưu tầm văn chương - văn hóa Hòa Bình một cách cụ thể. Ta có thể tin là với một ít tư liệu quý này, những ai muốn tìm hiểu và xét đoán về đất và người Mường, người Thái, người Kinh… nhiều năm trước ở Hòa Bình, họ sẽ có thêm sở cứ đáng tin cậy.

Tôi đang định viết tiếp về Lê Va nhưng chợt nhớ là ông từng có mấy dòng “Vô đề IV” thế này: “Trước dòng sông lặng lẽ/ Khó biết biển hướng nào/ Trước những kẻ ồn ào/ Dễ nhận ra bức vách” thì tự bảo: Hãy tạm dừng bức phác họa này ở đây đã.

Nguyên An

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.