Gặp em ruột nhà thơ Chính Hữu

Một ngày đẹp trời của tháng 11-2018, buổi sáng ở Thị xã Thái Hòa, tôi tình cờ được gặp nhà giáo Trần Chính Thanh, em ruột nhà thơ Chính Hữu.

Bác Thanh sinh năm 1938, trong gia đình có năm người con, bố là cụ Trần Đình Phác (1890-1952), quê Can Lộc, Hà Tĩnh, làm việc ở Sở lục lộ Vinh và mẹ là cụ bà Đào Thị Sáu, quê Thị xã Vinh, chính xác là vùng quê phía bên kia cầu Cửa Tiền.

Nhà thơ Chính Hữu (1926-2007), tên thật Trần Đình Đắc, là con cả, còn Trần Chính Thanh là con út trong một gia đình khá đông con. Quây quần bên tách cà phê đầu đông ở thị xã miền rừng, ngồi cạnh là bác Dương Tiến Ngọc, nguyên Chủ tịch Hội VHNT Thị xã Thái Hòa. Bác Ngọc chợt  chỉ vào ông bạn ngồi cạnh, bảo tôi: "Đây là em ruột của nhà thơ Chính Hữu đấy!".

Thú thật, trong tôi có chút hoài nghi. Bác Ngọc cười bảo đúng vậy! Mình và thầy Thanh từng là "đồng môn" của Trường Đại học Nông nghiệp I, có điều mình học sau hai năm... Tôi quay sang, nắm chặt lấy bàn tay bác Thanh, nhìn kỹ vào gương mặt, mái tóc và tảng trán đã nhiều phong sương của một trí thức chuyên giảng dạy và quản lý về nông nghiệp. Phải đến lúc bác cất chiếc mũ phớt, tôi mới nhận ra nhiều nét giống nhà thơ Chính Hữu.

Tác giả bài viết với bác Trần Chính Thanh - em trai nhà thơ Chính Hữu.
Tác giả bài viết với bác Trần Chính Thanh - em trai nhà thơ Chính Hữu.

Bác Thanh thủng thẳng kể, những năm 1957, 1958, bác học Trường Đại học Nông nghiệp I, khoa chăn nuôi, đóng trên đất Gia Lâm - Hà Nội. Từ năm 1965 đến 1985, giảng dạy tại Trường Đại học Nông nghiệp Hà Bắc. Trong khoảng thời gian này, từ năm 1976 đến 1978, bác bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sỹ về đề tài "Giá và cơ cấu giá thành".

Đến năm 1985, chuyển hẳn gia đình về Thị trấn Thái Hòa, bác làm Giám đốc Trung tâm Thú y huyện Nghĩa Đàn cho đến năm 1994 thì hưu. Mà đã được hưu đâu, Trường Trung cấp Kinh tế - kỹ thuật miền Tây Nghệ An còn mời bác tham gia giảng dạy, kèm cặp thêm cho các cháu... Sơ qua vài nét vậy đủ thấy đời bác cũng bôn ba với nghề, với con chữ lắm, riêng cái luận án Phó Tiến sỹ (sau này là Tiến sỹ) thì cho mãi đến hôm nay, tôi nghĩ, còn mang tính thời sự.

Trong quan hệ với Chính Hữu, bác Thanh luôn dành nhiều tình cảm cho người anh ruột của mình. "Anh tôi sinh ra tại Vinh. Tính nết ít nói, ngại nói dài, nhưng thương người, lành hiền, điềm đạm. Nhà thơ Hữu Thỉnh có lần bộc bạch, anh Chính Hữu rất thật thà, đã hứa giúp ai là giúp tận tình, không bỏ cuộc. Anh là ân nhân của Hữu Thỉnh, hiện là Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam. Còn nhà thơ Trần Đăng Khoa tôn Chính Hữu là bậc thầy của mình...

Hồi mẹ tôi còn sống, bán gạo ở Vinh, anh Chính Hữu hay vào Vinh thăm mẹ cùng người thân. Đến năm 1983, mẹ tôi qua đời, anh đau xót vào chịu tang mẹ. Trong hồi ký, Chính Hữu viết về mẹ thế này: "Mẹ tôi là một người phúc hậu, ít nói, sống lặng lẽ, tốt bụng, hiền lành, hay thương người. Mẹ thương yêu con cái nhưng không bao giờ nói ra... Hình như cá tính của tôi, tâm hồn của tôi chịu ảnh hưởng sâu đậm từ con người và cuộc đời mẹ?!".

Gặp bác Trần Chính Thanh lần đầu sáng ngày 9/11, cuối câu chuyện tôi xin địa chỉ và số điện thoại. Đến chiều 11/11, tôi tìm đến nhà riêng hai bác trên đất Tây Hiếu, gần cầu, ngoảnh mặt ra mênh mông đồng mía tiếp giáp con sông Hiếu. Vị thế nhà ở thế này thật thoáng đãng, sáng mở mắt đã gặp sông, thấy núi trước mặt.

Buổi chiều, dưới mái nhà rộng rãi, yên ả, bên ấm trà nóng, bác Thanh cho tôi xem một số ấn phẩm người anh thỉnh thoảng gửi vào cho ông em đọc. Quan trọng nữa, là biết thêm người vợ tảo tần, đẹp người đẹp nết của bác Thanh, là bác gái Chu Thị Hiếu, sinh ở Thái Hòa nhưng quê gốc xã Quỳnh Tiến, Quỳnh Lưu.

Học hết phổ thông, bác Hiếu là công nhân của đội chế biến Nông trường Tây Hiếu một thời gian. Tính từ năm 1965, vợ chồng bác có 20 năm liên tục sống, học tập, làm việc tại tỉnh Hà Bắc. Mãi đến năm 1985, cùng bác trai đưa gia đình trở lại Thái Hòa; từ Nông trường Sông Bôi, bác gái chuyển công tác về Trung tâm Thú y huyện Nghĩa Đàn...

Đã hai năm nay, không may bác bị bệnh zo-na thần kinh, ảnh hưởng máu, phải nằm điều trị tại nhà. Tuổi già thế là vất vả rồi, bác Thanh ơi, may có bốn người con xa gần hỗ trợ, thăm nuôi, nên còn có thể cười nói, cà phê cà pháo đôi hồi với bạn văn thị xã, và còn cả làm... thơ nữa.

Khi hỏi đến thơ phú, bác Trần Chính Thanh có chút ngại ngùng. Cuối cùng bác cũng đưa tôi xem mươi bài, thứ đã in sách thứ còn ở dạng vi tính. Tôi lưu ý hai bài, bài "Chiều tím sông quê" có nhiều câu thơ hơi hướng dân gian, đẹp và buồn man mác:

"Chiều về trên nẻo đường quen
Mải mê anh bước theo triền sông quê
Phù sa đang cuộn đổ về
Bồi thêm bãi đất tràn trề sóng ngô
Lúa khoai đồng mía gọi bờ
Nhớ về một thuở hoang sơ dâu tằm
Ai ơi, qua phút nhọc nhằn
Thở thêm một chút thanh bần cho vui
Đời người như thể con thoi
Đưa đi đưa lại bồi hồi tơ vương
Thương người một nắng hai sương
Phận mình chưa trọn, vẫn thương phận người...".

   Còn bài "Trăng chếch" khá lạ, thú vị, lại rất đời:

"Trăng ôm núi ngủ-trăng nghiêng ngả,
Trăng gọi anh về - trăng lả lơi.
Trăng gieo ánh sáng - soi ngõ hẻm,
Trăng vẽ đường cong - em tắm đêm.
Trăng khuất núi rồi - thêm câm lặng,
Vạn vật gắng chờ - trăng lại lên!".

Bạn đọc những câu thơ trên chắc sẽ đồng ý với tôi, rằng Trần Chính Thanh là nhà giáo, nhà nghiên cứu, tham gia làm quản lý và ít nhiều có tâm hồn thơ - cho dù bác là em ruột nhà thơ Chính Hữu, Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000, tác giả tập thơ rất nổi tiếng "Đầu súng trăng treo". Điều này, chẳng có gì khó lý giải cả, mỗi người mỗi nghề mỗi nghiệp, mỗi đóng góp cho đời. Tuy nhiên, đấy lại điều tôi đặc biệt thích thú khi đặt bút viết những dòng này?!

Nguyễn Văn Hùng

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.