Đọc lại Hainơ trong “mùa thơ” COVID-19

Trong lúc cả nước đang đồng lòng, chung sức chống lại dịch bệnh COVID-19, trên mạng xã hội cũng đang rộ lên những bài thơ mà nhiều người gọi là “mùa thơ” COVID-19.

Những bài thơ ca ngợi chủ trương đúng đắn, kịp thời của chúng ta nhằm đẩy lùi nạn dịch đang hoành hoành trên khắp thế giới. Những bài thơ nói lên quyết tâm của mỗi con người trước khó khăn, thách thức của đại dịch cùng những vần thơ ca ngợi những doanh nhân, nghệ sỹ, những người dân bình thường góp tiền của, công sức cho công cuộc chống dịch…

Người ta còn lấy thơ của những nhà thơ nổi tiếng như Huy Cận, Xuân Diệu, Nguyễn Bính… để “chế tác” ra những khổ thơ, vần thơ trong mùa dịch…

Có nhiều ý kiến khác nhau về “Mùa thơ” COVID-19, khen, chê, giễu cợt đến hài hước!

Hôm vừa rồi, tôi có một người quen từ Đức về bị cách ly ở Sơn Tây có lên FB tâm sự, rồi gọi điện cho tôi và nói nhờ có cuốn thơ của nhà thơ Đức nổi tiếng Henrich Hainơ mang về nên những ngày cách ly đọc cho đỡ buồn, đọc đến thuộc lòng: “Tim ta ơi đừng nên u uất/ Số phận mình gắng chịu cho quen/ Những thứ gì mùa đông cướp mất/ Mùa hạ về sẽ trả lại cho em…”. Vì tôi không biết tiếng Đức nên bạn đọc bài thơ dịch này. Thực ra tôi cũng đã thuộc lòng những câu thơ trên.

Nhà thơ Đức Henrich Hainơ.
Nhà thơ Đức Henrich Hainơ.

Thuở còn là sinh viên đại học, tôi đã thuộc lòng nhiều câu thơ mà sau này tôi mới biết đó là của nhà thơ nổi tiếng người Đức H.Hainơ. Những người yêu thơ Việt Nam có lẽ không ai là không nhớ tới bài thơ “Trong mơ anh đã khóc”: “Trong mơ anh đã khóc/ Thấy em trong áo quan/ Đến khi anh tỉnh giấc/ Nước mắt cứ tuôn tràn/ Trong mơ anh đã khóc/ Thấy em không trung thành / Tỉnh dậy, anh, đôi mắt/ Lệ đắng còn chảy quanh/ Trong mơ anh đã khóc/ Thấy em vẫn dịu hiền/ Thế rồi anh tỉnh giấc/ Nước mắt vẫn triền miên” (Hoàng Trung Thông dịch).

Nói về thơ H. Hainơ, nhà nghiên cứu văn học Nga Sinman cho rằng “Ông đã cho ta thấy một cái tôi trữ tình đau khổ, sáng tạo, bông đùa, phủ định và yêu thương - tất cả đều xuất phát từ cuộc sống thường nhật… có lẽ Hainơ đã đạt tới mức độ cao nhất trong sự gắn bó với đọc giả của ông”.

Đọc lại nhận định này, tôi càng thấm thía hơn khi nghĩ về thơ. Nhà thơ phải sống thế nào, yêu thế nào, sáng tạo thế nào, gắn bó với người đọc thế nào… mới có những bài thơ, câu thơ còn lại với thời gian.

Bây giờ, ở ta người làm thơ rất nhiều, thơ in trên báo, trong các tập thơ, trên mạng xã hội cũng rất nhiều. Nhưng, có một nghịch lý, ấy là người thích đọc thơ lại rất ít. Tôi đã tận mắt chứng kiến một nhà thơ khi mở trang thơ của một tờ báo văn nghệ chính thống, chỉ lướt qua hơn chục bài thơ in trên đó, rồi dừng lại đọc bài thơ của mình, không đọc thơ ai cả, chỉ ngồi rung đùi!

Bản thân tôi là người yêu thơ, thấy thơ là đọc, ở trên báo, trong sách hay trên Facebook, nhưng nhiều khi đọc cả mấy chục bài thơ, mỏi cả mắt mà không tìm được dù là một câu thơ mà mình thích.

Thế nhưng, khi đọc lại H.Hainơ, lại say mê không muốn rời cuốn sách. Không phải tại tôi đã chán thơ mà tại thơ dở làm tôi chán chăng?!

Tôi bỗng nhớ tới câu nói của Nữ hoàng Áo Elisaeth: “Hainơ khác với nhiều thi sỹ đương thời, vì ông khinh ghét sự giả dối; ông luôn luôn thể hiện mình như con người và tất cả lỗi lầm của con người”. Cái đẹp trong thơ là vậy chăng?! Không phải là sự uốn éo giả tạo!

Henrich Hainơ (1797-1856) là người Đức, gốc Do Thái. Tác phẩm thơ đầu tiên là Gedichte (Những bài thơ) viết về mối tình cuồng si của ông với cô em họ. Nước Đức thời ông sống không phải văn minh, phát triển như bây giờ. Ông đã trải qua nhiều khổ đau trong đời sống thường nhật. Năm 1831, ông phải rời bỏ quê hương sang Paris, Thủ đô của nước Pháp, sống ở đấy cho đến cuối đời. Có một câu nói nổi tiếng của ông mà mãi sau này nhiều người còn nhắc lại: “Nếu một người lúc nào cũng có thể mỉm cười trước tất cả mọi điều thì chắc chắn người đó trong lòng đã có nhiều rạn nứt đau đớn”. Đọc thơ ông, ta thấy nhiều nhiều “rạn nứt đau đớn” trong đó, những “rạn nứt” mà ông đã không hề giấu giếm, nó đã biến thành thơ, biến thành nụ cười vươn dậy trước mọi khổ đau. Đúng là “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay” - nói như cụ Nguyễn Du trong “Truyện Kiều” bất hủ.

“Con thường sống ngẩng cao đầu mẹ ạ/ Tính tình con hơi ngang bướng kiêu kỳ/ Nếu có vị chúa nào nhìn con vào mắt/ Con chẳng bao giờ cúi mặt trước uy nghi/  Nhưng mẹ ơi - con xin thú thật/ Trái tim con dù kiêu hãnh thế nào/ Đứng trước mẹ dịu dàng, chân chất/ Con thấy mình bé nhỏ làm sao…”. Trước đây tôi từng ngân lên những câu thơ này khi nghĩ về người mẹ mà không biết thơ của ai. Bây giờ, tôi mới hay đó là những câu trong bài thơ “Gửi mẹ” của Hainơ do nhà thơ Tế Hanh dịch qua bản tiếng Pháp.

Tôi còn nhớ một lần bị thầy giáo dạy toán phạt, ấy là năm học lớp 10 (hệ 10 năm) vì mải lúi húi chép lại một bài thơ từ sổ tay của một người bạn cùng lớp. Đến nay tôi vẫn thuộc lòng bài thơ này và bây giờ mới biết là của nhà thơ Hainơ: “Mùa hè nồng cháy/ Ở trên má em/ Mùa đông lạnh lẽo/ Ở trong tim em/ Nhưng có một ngày/ Hỡi em / Mùa đông sẽ trên má/ Mùa hè ở trong tim (Mùa hè nồng cháy - Tế Hanh dịch).

Khi tôi biên soạn cuốn “Những câu thơ hay Đông - Tây - Kim - Cổ”  (Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 2013), tôi bỗng nhớ đến mấy câu thơ tôi đã thuộc lòng :

Triệu năm, đã triệu năm rồi
Những ngôi sao ở trên trời đã yêu.
Lời của sao đẹp bao nhiêu
Nhưng mấy ai hiểu ít nhiều em ơi?
Chỉ anh hiểu được mà thôi
Vì anh học được những lời của em.

Lúc đó tôi cứ ngỡ là thơ của một nhà thơ Nga nổi tiếng nào đó. Nhưng vì không tìm được tác giả nên tôi không thể đưa vào cuốn sách, mà chỉ ngân nga những đêm sao sáng đầy trời một mình ở nhà vườn Sóc Sơn. Giờ mới biết là thơ của Hainơ, bài “Triệu năm” cũng do Tế Hanh dịch.

Tôi rất thích bài thơ “Họ giày vò thân tôi” của Hainơ: “Họ giày vò thân tôi/ Họ làm tôi phát cáu/ Người với lòng yêu thương/ Người với lòng căm ghét/ Họ đầu độc bữa ăn/ Họ đầu độc chén nước/ Người với lòng yêu thương/ Người với lòng căm ghét/ Nhưng cái người giày vò/ Và đầu độc tôi nhất/ Chẳng bao giờ yêu tôi/ Cũng chẳng bao giờ ghét”  (Tế Hanh dịch). Bây giờ ta hay nói đến thói vô cảm như là một tội ác vô hình đang trở thành căn bệnh của xã hội hiện đại. Ấy vậy mà Hainơ đã thể hiện rất tài tình thói vô cảm này trong bài thơ “Họ giày vò thân thôi” từ những năm đầu của thế kỷ 19. Tính hiện đại trong cấu tứ, trong ý tưởng, trong cách thể hiện, cả trong ngôn từ của bài thơ thực sự sâu xa, minh triết. Bây giờ ta nói đến thơ hiện đại hay hậu hiện đại, thực ra Hainơ đã thể hiện trong bài thơ này, tính hiện đại còn nguyên giá trị dù thời gian cách chúng ta gần hai thế kỷ!

Cả thói đời giả dối, đạo đức giả cũng được Hainơ chỉ trích không thương tiếc trong bài thơ “Thiên hạ thực ngu”:

Thiên hạ thực ngu, thiên hạ thực mù
Và càng ngày càng trở nên dớ dẩn!
Họ bảo em tính tình không đứng đắn
Hỡi bé em xinh đẹp của tôi ơi.
Thiên hạ thực ngu, thiên hạ thực mù,
Và mãi mãi sẽ hiểu sai cô bé;
Họ đâu biết em hôn lại ngọt ngào đến thế
Nụ hôn cháy nồng làm ngây ngất hồn tôi

(Quang Chiến dịch)

Tôi thiển nghĩ, không phải thời bây giờ thơ không cần thiết cho đời sống thường nhật, mà chính là thơ dở mới không cần thiết cho đời sống, không cần cho ai cả. Đôi khi chính loại thơ này làm hại cho chính bản thân thơ, bản thân người làm thơ - những người làm ra thơ dở!

Tôi chỉ làm thơ khi không còn cách gì có thể diễn đạt được những rung động sâu xa trong tâm hồn mình. Để kết thúc bài viết này, tốt nhất là dẫn ra đây bài thơ “Khi anh nói cùng em” của Hainơ:

Khi anh nói cùng em những điều anh đau khổ,
Em ngáp dài không nói năng chi;
Khi trong thơ anh nỗi đau thổ lộ,
Em khen anh thi tứ diệu kỳ  

(Hoàng Trung Thông dịch).

(Tất cả thơ trích trong bài viết này là từ cuốn “H. Hainơ - Thơ trữ tình”  - Nhà xuất bản Văn học)

Dương Kỳ Anh

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.