Đệ nhất đào võ của sân khấu cải lương

Hầu hết xuất phát điểm của các nghệ sĩ cải lương đều từ tầng lớp lao động nghèo, tuổi thơ của họ vốn cực khổ, dầm mưa dãi nắng, nhưng với năng khiếu bẩm sinh và niềm đam mê nghệ thuật mãnh liệt, bằng sự rèn luyện miệt mài, họ biến điều không thể thành có thể, từ kẻ nghèo khó thành người nổi tiếng. Và NSƯT Diệu Hiền cũng không phải là trường hợp ngoại lệ.

Nổi danh nhờ thế vai

Tên thật của cô là Lâm Thị Hiền, sinh năm 1945 tại Ông Kho - Phú Lộc - Sóc Trăng, trong gia đình có 7 anh chị em, cô là người con thứ năm. Năm lên 4 tuổi, ba của cô, nhà giáo Lâm Văn Cư, không may mất sớm, sau đó nhà lại bị cơn hỏa hoạn thiêu rụi.

Mẹ cô, bà Ngô Thị Lài phải dẫn dắt cả nhà lên Sài Gòn mưu sinh. Cả gia đình phải sống trên một chiếc ghe rách nát đậu ở dưới gầm cầu Rạch Bầu (nay là cầu Kho - quận 1 – TP Hồ Chí Minh). Mẹ cô rất “ghiền” cải lương. Cứ mỗi tối thứ bảy là bà ngồi dưới chân cầu để nghe ké Radio phía dãy nhà trên phố phát văng vẳng. Dành dụm mãi bà mới mua được một tấm vé xem đoàn cải lương Kim Thanh biểu diễn và dắt NSƯT Diệu Hiền theo, khi đó cô mới 9 tuổi đầu.

Sau đêm xem hát đó, cô bắt đầu “mê” ánh đèn của sân khấu cải lương. Năm 14 tuổi, Diệu Hiền nói với mẹ của mình: “Má cho con đi hát đi, đi hát nhiều tiền lắm, con sẽ mua cho má chiếc vòng bự cho má đeo...”. Diệu Hiền cứ theo nài nỉ, mẹ cô giận lẫy lấy hai bộ quần áo quăng ra và nói: “… Mày muốn đi đâu thì đi luôn đi, đừng về nhà này nữa…”. Cô ôm mớ quần áo chạy đi ngay, không dám quay lại, sợ mẹ cô đổi ý.

NSƯT Diệu Hiền năm 16 tuổi.
NSƯT Diệu Hiền năm 16 tuổi.

Tới đình Phú Nhuận, thấy đoàn hát Hoa Lan - Xuân Liễu đang tập tuồng, cô vào xem và mở lời xin nghệ sĩ Xuân Liễu cho nhập đoàn học hát. Ông bầu từ chối. May sao có cô Huệ ở trong đoàn đồng ý cho cô đi theo giúp việc trông coi đứa con nhỏ, cô Huệ hứa sẽ dạy múa, dạy ngâm thu. Không may, chỉ được một tháng, đoàn Hoa Lan - Xuân Liễu rã gánh, cô Huệ về nhà, Diệu Hiền chơi vơi như gà con lạc mẹ.

May sao có cô Thủy Tiên rủ cô ra Qui Nhơn (Bình Định) xin vào đoàn Hoa Sen, vì đoàn này đang tuyển vũ sinh. Đoàn Hoa Sen lúc này rất mạnh, ngoài cô Kim Luông đào chánh, ông bầu Bảy Cao còn mời cô Nguyệt Yến về tăng cường. Đờn chánh cho đoàn là nhạc sĩ Hoàng Nô. Khi ông dạy ca cho các diễn viên ở trong đoàn, Diệu Hiền đứng kế bên học lóm. Một buổi trưa, Diệu Hiền xin thầy Hoàng Nô cho ca thử. Giọng ca cao vút của Diệu Hiền khiến các nghệ sỹ trong đoàn ngạc nhiên, sững sờ. Nhạc sĩ Hoàng Nô liền hỏi: “Con muốn làm đệ tử thầy không?”.

Tuồng “Cánh chim bằng”, NS Nguyệt Yến đóng vai Nữ hoàng. Vì có chuyện không vừa lòng với ông bầu, cô đào Nguyệt Yến bỏ đoàn đi liền trong ngày. Ông bầu Bảy Cao đành cho Diệu Hiền hát thế vai, và không ngờ cô đã thành công, trở thành đào chánh của đoàn. Cô chọn nghệ danh Minh Hiền vì rất ái mộ vua xàng xê Minh Chí. Lúc đoàn lên Đà Lạt diễn vở tuồng “Hoa tàn trong am vắng”, vai chú tiểu Diệu Hiền do NS Mộng Vân Từ (con của soạn giả Mộng Vân) hát.

Một đêm nọ, anh đi chơi không về kịp giờ diễn, đoàn quyết định chọn cô hát thế vai. Không ngờ, vai chú tiểu Diệu Hiền đã giúp cô được mọi người cảm mến. Sau đêm diễn đó, khán giả gặp cô cứ bảo: “...Chú tiểu Diệu Hiền kìa!”. Kể từ đó, cô đổi nghệ danh thành Diệu Hiền.

Tỏa sáng vai đào võ và thành công với những bài vọng cổ dành cho nam giới

Khoảng cuối thập niên 70 của thế kỷ trước, giới mộ điệu cải lương bỗng mê mẩn một vở tuồng mà trong đó không có cô đào trẻ đẹp như thường lệ, thay vào đó là một cô đào võ cứng rắn, mạnh mẽ. Đó là vở “Nhụy Kiều tướng quân” của tác giả Hoàng Anh Chi, do đoàn cải lương Tháp Mười dàn dựng, Diệu Hiền thủ vai nữ tướng Triệu Thị Trinh cùng với kép Hoài Thanh trong vai tướng quân Lê Minh.

Trong “Nhụy Kiều tướng quân” có hai lớp diễn tuyệt đẹp. Một lần Triệu Thị Trinh tiễn Lê Minh vào làm nội gián trong hàng ngũ quân giặc, coi như hy sinh người bạn thâm tình, lấy chén rượu tế sống người dũng tướng xả thân vì nước. Đâu đó phảng phất một tình yêu giữa đôi trai gái tài ba, nhưng họ đã biết giấu đi để hoàn thành việc lớn. Trong từng câu, từng chữ tiễn đưa nhau vừa có sự ngập ngừng bối rối, vừa có cái tha thiết nghẹn ngào của một lần vĩnh biệt.

Lớp diễn thứ hai, Lê Minh bị giặc phát hiện và giết chết. Triệu Thị Trinh xông pha giữa xác người ngổn ngang nơi chiến trận, đến nơi chỉ còn kịp vuốt mắt người thương lần cuối. Triệu Thị Trinh lạy Lê Minh ba lạy. Khi Diệu Hiền vừa dứt ca câu vọng cổ, khán giả chảy nước mắt trong cảm xúc hào hùng, bi tráng. Nhân vật Triệu Thị Trinh trong bộ áo giáp mạnh mẽ nhưng chứa đựng một trái tim đầy nữ tính đã được Diệu Hiền thể hiện một cách tuyệt vời.

Nhắc tới vai diễn này, NSƯT Diệu Hiền bồi hồi chia sẻ: “Năm 31 tuổi, tôi bị bỏng nặng khi ở đoàn Hương Tràm (Cà Mau) và tưởng chừng như phải giã từ sự nghiệp vì cánh tay trái bị co rút, không cử động được. May sao nhờ ông thầy thuốc ở Bạc Liêu, là anh rể của vợ chồng anh Trọng Sỹ (một diễn viên của đoàn) tận tình cứu chữa. Hàng ngày, ông vừa sắc thuốc cho tôi uống, vừa dạy tôi tập luyện võ thuật nên cánh tay trái của tôi dần dần hồi phục. Năm 34 tuổi, tôi vận dụng những thế võ đã được học vào vai diễn Triệu Thị Trinh và thành công”.

NSƯT Diệu Hiền còn một vai đào võ để đời khác nữa đó là vai Đô đốc Bùi Thị Xuân trong vở tuồng “Nữ tướng cờ đào”. Từ những vai diễn này, cô được báo giới và công chúng phong tặng biệt danh “Đệ nhất đào võ của sân khấu cải lương”.

NSND Viễn Châu tặng hoa cho NSƯT Diệu Hiền trong đêm diễn "Diệu Hiền - Một đời gạo chợ nước sông" năm 2007 tại Nhà hát Thành phố (TP.Hồ Chí Minh).
NSND Viễn Châu tặng hoa cho NSƯT Diệu Hiền trong đêm diễn "Diệu Hiền - Một đời gạo chợ nước sông" năm 2007 tại Nhà hát Thành phố (TP.Hồ Chí Minh).

Yếu tố quyết định cho NSƯT Diệu Hiền trở thành tài danh của sân khấu cải lương chính là giọng ca cao vút có một không hai của cô. Giọng kim của Diệu Hiền cao nhưng rất êm, rất cảm xúc. Những dấu nhấn “sắc”, “hỏi”, “ngã” được cô ca vút lên cao thật ngọt, thật chín, đặc biệt là những đoạn ngân cuối câu vọng cổ, cô “hơ… hơ…” như ngắt quãng, nghe rất lạ, tạo nên sắc thái riêng cho giọng ca của mình.

Cô cho biết: “Tôi thường theo dõi bắt chước theo lối ca của thầy Bảy Cao, người thầy đầu tiên ở đoàn Hoa Sen, Nhưng tôi ca vuốt nhẹ, êm hơn, nên tạo được nét lạ không trùng lắp với giọng ca của bậc thầy đi trước. Tôi học cách ca hùng tráng, bộ điệu uy nghi của vua xàng xê Minh Chí; học cách vô vọng cổ chồng vút lên cao của NSND Út Trà Ôn; bộ chân, bộ tay thì học lóm của NSƯT Hoàng Giang; tôi học cách hò Huế từ nghệ sĩ  Ngọc Ẩn và nghệ sĩ Minh Cảnh khi chúng tôi cùng hát chánh chung trên sân khấu Kim Chung 2 trước năm 1975”.

Có lẽ do quan niệm: “làm nghề là phải học hỏi không ngừng, học những người đi trước, mỗi người một chút, nhưng phải biết sáng tạo, biến của người thành của ta…”, nên NSƯT Diệu Hiền đã thể hiện thành công với những bài ca vọng cổ dành cho nam giới của soạn giả Viễn Châu như: “Tần Quỳnh khóc bạn”, “Trụ Vương thiêu mình”… bằng phong cách nghệ thuật của riêng mình.

Nhờ biết kết hợp ca diễn, nên từ bài ca đơn phương, qua giọng ca của cô đã biến thành một lớp diễn rất hay, bật lên được nội dung, tinh thần mà tác giả gửi gắm, không trùng lắp với những nghệ sĩ thể hiện trước đó. NSƯT Diệu Hiền tâm sự: “NSND Út Trà Ôn là sư phụ, NS Thanh Hải là đàn anh, cách ca của hai người nghệ sĩ trên tôi thuộc nằm lòng. Nay sư phụ và đàn anh không còn tại thế, tôi ca lại những bài vọng cổ này vừa để tưởng nhớ thầy, vừa để sáng tạo thêm một cách ca mới lạ”.

NSƯT Diệu Hiền đã có gần 60 năm đứng trên sân khấu và có một sự nghiệp lẫy lừng. Đã ngoài tuổi 70, nhưng niềm đam mê biểu diễn trong cô vẫn còn mãnh liệt. NSƯT Diệu Hiền vẫn thường xuyên tham gia các chuyến công tác xã hội từ thiện. Cô vẫn nhiệt tình cống hiến, vẫn hát để phục vụ đồng bào khán giả khắp mọi nơi, trọn vẹn với ước mơ trọn đời gắn bó với sân khấu cải lương.

Phạm Thái Bình

Các tin khác

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

Chỉ ít ngày sau khi nhà văn Higashino Keigo qua đời, cuốn tiểu thuyết mới nhất và cũng là cuối cùng của ông đã được phát hành ở Nhật Bản vào sáng 5/8/2026 như một "lời giã biệt" hàng triệu độc giả yêu mến ông suốt hơn 40 năm qua...

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Ngoài khu lưu niệm Nguyễn Du ở Hà Tĩnh, khu lưu niệm Lê Quý Đôn ở Thái Bình và khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu ở Bến Tre, thì văn học hiện đại nước ta cũng đã có công trình Bảo tàng Văn học Việt Nam. Thế nhưng, nhìn ra các nước trong khu vực, so với Trung Quốc, thì cách lưu dấu văn nhân ở Việt Nam vẫn chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp. Chúng tôi đã có dịp “mục sở thị” một số mô hình bảo tàng văn nhân tại Bắc Kinh và không khỏi trầm trồ về sự đầu tư nghiêm túc và sự quản lý khoa học.

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu hành trình con người đi từ thuở hoang sơ đến văn minh. Lần theo dấu vết các trang truyện cổ, chúng ta sẽ thấy tổ tiên đã từng bước dựng xây nền tảng gia đình, thiết lập trật tự xã hội bằng cả trí tuệ lẫn sự trải nghiệm qua nhiều thế hệ.

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.