Hướng tới kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025)

Danh tướng anh hùng sông nước Cửu Long Đồng Văn Cống

Cùng với các tướng lĩnh Nguyễn Bình, Trần Văn Trà, Nguyễn Văn Vịnh, Phan Trọng Tuệ, Huỳnh Văn Nghệ, Dương Văn Dương, Tô Ký, Nguyễn Hữu Xuyến, Lê Văn Tưởng, Nguyễn Chánh, Nguyễn Minh Châu, Lê Quốc Sản, Dương Cự Tẩm, Bùi Cát Vũ... Trung tướng Đồng Văn Cống là một trong những vị chỉ huy có công lao to lớn trong việc xây dựng, thống nhất các lực lượng vũ trang Nam Bộ thời kỳ đầu 9 năm chống thực dân Pháp.

Từ đó, cuộc đời binh nghiệp lẫy lừng của ông chủ yếu gắn liền với quê hương Bến Tre và sông nước Cửu Long trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ cho đến khi thống nhất nước nhà bằng đại thắng mùa xuân năm 1975.

Từ chỉ huy du kích Tân Hào đến anh cả Lực lượng vũ trang Bến Tre

Sinh thời mỗi lần tiếp chuyện chúng tôi, Trung tướng Đồng Văn Cống bao giờ cũng tươi vui nhiệt thành. Phong thái của một chiến tướng dạn dày trận mạc vẫn toát ra từ sự giản dị, chân thành, gần gũi của một con người sinh trưởng từ miệt vườn. Trong những câu chuyện của mình, ông luôn nhắc về Bến Tre và miền Tây Nam Bộ với những kỷ niệm về quê hương, người thân, đồng đội bằng tình yêu thương tha thiết.

Khi thực dân Pháp nổ súng tái xâm lược Nam Bộ, Đồng Văn Cống với tư cách Bí thư Chi bộ xã Tân Hào của huyện Giồng Trôm đã xây dựng đội du kích xã ngày 12/2/1946 với 36 người trang bị vũ khí thô sơ như súng săn, mã tấu, dao găm, lựu đạn. Chỉ trong thời gian ngắn, đội du kích đã trưởng thành vượt bậc, thu hút thanh niên các xã lân cận tham gia, với quân số lên 80 người. Đội du kích được nhân dân trìu mến gọi biệt danh “Bộ đội Tân Hào” hay “Bộ đội ông Cống” đã lập nhiều chiến công vang dội, như tiêu diệt một trung đội lính lê dương tại cầu bà Ba Ngỡi, đánh tan quân địch trú đóng ở chợ Hương Điểm, Bàu Dơi, Châu Phú,…

dong van cong-vo nguyen giap.jpg -0
Từ phải sang: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trung tướng Đồng Văn Cống, Thượng tướng Hoàng Cầm, Trung tướng Lê Văn Tưởng trong một dịp hội ngộ ở TP Hồ Chí Minh. Ảnh: Tư liệu

Nhìn thấy đội du kích Tân Hào lớn mạnh, Khu trưởng Khu 8 Trần Văn Trà đã quyết định thành lập Chi đội 19 và phân công Đồng Văn Cống làm Chi đội trưởng, hoạt động ở Bến Tre và các tỉnh kề bên. Điều đặc biệt là trong Chi đội 19 của Chi đội trưởng Đồng Văn Cống có nhiều chiến sĩ quốc tế mang các quốc tịch: Pháp, Nga, Đức, Nhật, Maroc, Algeria,… Đây chủ yếu là những hàng binh từ Chiến tranh Thế giới thứ II vào nước ta đã được cảm hóa, giáo dục và tham gia chiến đấu, lập nhiều công trận.

Sau này, ngày 12/2 kỷ niệm thành lập đội du kích Tân Hào của Trung tướng Đồng Văn Cống về sau đã được Tư lệnh Quân khu 9 chính thức công nhận là Ngày Truyền thống của Lực lượng vũ trang Bến Tre.

Mang gươm ngang dọc bưng biền

Trung tướng Đồng Văn Cống sinh tháng 2/1918 trong một gia đình nông dân tại xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. “Ông cố quê ở Vĩnh Phúc, vì điều kiện mưu sinh mà năm Tự Đức thứ hai đã di cư vào Nam làm thuê kiếm sống. Ông nội và cha của Đồng Văn Cống cũng phải đi ở đợ làm tá điền cho địa chủ” - ông cho biết.

Thời trẻ Đồng Văn Cống cao to, điển trai, có sức vóc mạnh hơn người, thích hoạt động xã hội, chơi thể thao, nhất là bóng đá. Tính cách phóng khoáng, giản dị, dễ gần, giao thiệp rộng rãi nên ông từng là thần tượng của thanh niên cùng trang lứa quanh vùng. Khi giặc Pháp tái chiếm Nam Bộ, Đồng Văn Cống cùng bạn bè tìm được bốn cây súng lửa, cùng gươm, tổ chức trừ gian diệt tề. Ông thường mang bên mình một cây gươm cướp được của quân Nhật để chỉ huy du kích Tân Hào đánh địch, trông oai phong lẫm liệt như những chiến tướng ngày xưa trong sử sách phim ảnh. Tài năng quân sự bẩm sinh của ông có dịp thể hiện.

Lão tướng nhớ lại: “Chúng tôi vừa đánh giặc vừa cướp vũ khí của giặc để tự trang bị cho mình. Lúc ấy chưa có bộ đội chính qui, chỉ có dân quân du kích. Mọi thứ đều tự túc, chứ chưa có chế độ về khí tài, quân trang. Đơn vị tôi phát triển sớm nhất và mạnh nhất tỉnh Bến Tre cũng như toàn Khu 8. Sau đó, cấp trên giao tôi đi thuyết phục anh em, tổ chức biên chế các lực lượng quân sự ở Bến Tre thành bảy trung đội, rồi tách bốn trung đội thành lập Chi đội 19 do tôi làm Chi đội trưởng, hoạt động ở Bến Tre - Gò Công, 3 trung đội còn lại thành lập Chi đội 20 hoạt động ở hai tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long. Sang năm 1947, bộ đội phát triển nhanh, Bộ Tư lệnh Khu 8 tổ chức thành lập Trung đoàn 99 gồm hai tiểu đoàn. Tôi được cử làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 99 kiêm Tỉnh đội trưởng Bến Tre, cùng anh em liên tục chiến đấu”.

Chi đội 19 do Đồng Văn Cống chỉ huy đã đánh thắng nhiều trận, tiêu biểu như đánh đồn Lộc Thuận, chặn viện và diệt nhiều sinh lực một tiểu đoàn của Pháp ở Thới Lai, thu 100 súng, có nhiều trung liên. Mùng 2 Tết Nguyên đán năm 1947, Chi đội 19 vận động phục kích giữa ban ngày tiêu diệt một đại đội Pháp có xe thiết giáp yểm trợ, thu 150 súng, với nhiều trung liên, đại liên, bazooka, cối các loại và nhiều quân dụng. Đặc biệt, chiến công lớn nhất của Chi đội 19 mãi được lưu truyền là đánh chặn đà tiến công hùng hổ của Binh đoàn Cơ động lê dương Pháp khi chúng dự định càn quét miền Tây Nam Bộ, góp phần chặn đứng âm mưu tốc quyết tốc thắng của địch tại Đồng bằng sông Cửu Long…

“Nam Bắc thống nhất một nhà, lòng tôi xúc động vô cùng!”

Năm 1954, ông Đồng Văn Cống với tư cách Tham mưu trưởng Phân Liên khu miền Đông do ông Trần Văn Trà làm Tư lệnh, đã tham gia Ban liên hiệp đình chiến rồi đưa quân tập kết ra Bắc. Ông được phong quân hàm Đại tá, làm Tư lệnh Sư đoàn 330. Sau khi học bồi dưỡng nghệ thuật quân sự ở Trung Quốc trở về, ông được cử làm Phó Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn, Cục phó Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu, tham gia chỉ huy mở tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển.

Năm 1963, ông về lại chiến trường miền Nam đánh Mỹ, lần lượt được giao nhiều trọng trách: Tư lệnh Khu 8 và Khu 9, Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Tư lệnh Quân đoàn Dự bị chiến lược trong Chiến dịch Hồ Chí Minh. Ông còn là Tư lệnh tiền phương Quân khu 7, dẫn đầu một cánh quân sang đập tan tập đoàn diệt chủng Pol Pot giải phóng Phnôm Pênh.

Từ bưng biền xứ dừa Bến Tre và sông rạch Cửu Long Giang thời 9 năm chống thực dân Pháp, “Bộ đội ông Cống” đã là nỗi kinh hoàng cho quân thù. Tài năng quân sự của người chỉ huy trẻ xứ dừa sớm bộc lộ, khẳng định qua từng trận đánh, chiến công. Ông là người lính đi lên vững chắc từng bước và nhanh chóng xác lập vị trí lãnh đạo cấp đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn, quân khu, góp phần thắng lợi cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp ở Nam Bộ. Đến những năm đánh Mỹ, cái tên Đồng Văn Cống với tư cách một trong những vị chỉ huy chủ chốt của Quân Giải phóng miền Nam, lại thường xuyên xuất hiện cả trên báo đài chính quyền Sài Gòn. Không ít giai thoại được truyền tụng quanh cái tên ấy. Đối phương nể phục. Đồng đội và những người lính quân giải phóng tự hào về ông.

Sáng ngày 1/5/1975, ông cùng đoàn quân chiến thắng sớm có mặt Dinh Độc lập lo tổ chức chuẩn bị đón Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh và Bộ Tư lệnh Miền vào tiếp quản thành phố. Vị tướng nhớ lại: “Nhìn cảnh quần chúng xuống đường đón mừng thành phố giải phóng, đất nước hòa bình, Nam Bắc thống nhất một nhà, lòng tôi xúc động vô cùng. Sức mạnh của quần chúng lớn lắm. Với sự thâm nhập vận động của cán bộ hoạt động thành, khi Tướng Dương Văn Minh chưa tuyên bố đầu hàng thì quần chúng cách mạng đã nổi dậy làm chủ hơn bốn mươi khu vực trong thành phố. Giải phóng Sài Gòn là sự kết hợp giữa tấn công của bộ đội chủ lực với sự nổi dậy của các lực lượng quần chúng. Nhìn từng con đường, từng góc phố, từng ngôi nhà rợp bóng cờ sao, tôi cảm thấy rất mãn nguyện. Nhiệm vụ của người lính chiến đấu vì nền độc lập tự do của Tổ quốc đã hoàn thành. Có thể nói, đó là những giờ phút đẹp nhất trong cuộc đời binh nghiệp mà tôi mơ ước”.

Đất nước thống nhất chưa được bao lâu, chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, Tướng Đồng Văn Cống lại ra trận. Trước khi lui về an nghỉ, ông là Phó Tổng thanh tra Bộ Quốc phòng, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh năm 1990. Cách đây 20 năm, vào ngày 6/8/2005, Trung tướng Đồng Văn Cống đã qua đời ở tuổi 88 trong sự tiếc thương của mọi người, nhất là nhân dân và đồng đội miền sông nước Cửu Long. Nhà nước đã truy tặng ông danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vào năm 2011 và nhân dân Bến Tre lập đền thờ ông tại xã Tân Hào. Mỗi lần về đây thắp nén hương tưởng nhớ chiến tướng của bưng biền, lòng chúng tôi dâng lên nỗi xúc động tự hào.

Phan Hoàng

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.