Danh nhân Đậu Vĩnh Trường: Danh tướng và huyền tích bất tử

Hoa Viên xưa, nay thuộc xã Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, là một làng cổ nằm dưới chân núi Hồng Lĩnh, nơi hội tụ nhiều giá trị lịch sử - văn hóa đặc sắc của vùng đất phía Bắc Hà Tĩnh. Đây không chỉ là địa bàn cư trú sớm của cư dân Việt cổ với di chỉ khảo cổ nổi tiếng Phôi Phối - Bãi Cọi, mà còn là vùng đất giàu truyền thống văn hóa, lưu giữ hệ thống đình, chùa, miếu mạo cùng nhiều địa danh gắn với các cuộc chiến tranh thời Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn như Trạng Đội, Cồn Sâu Bắn, Trạng Vạn.

Trong truyền thống lịch sử - văn hóa của vùng đất ấy, Đậu Vĩnh Trường là một nhân vật tiêu biểu, được hậu thế tôn vinh là danh tướng thời Lê - Trịnh, đồng thời là vị phúc thần có vị trí quan trọng trong đời sống tín ngưỡng của cư dân địa phương.

Theo các nguồn tư liệu như “Nghi Xuân địa chí”, gia phả họ Đậu ở Xuân Viên và truyền ngôn dân gian địa phương, Đậu Vĩnh Trường sinh ra và lớn lên trên vùng quê hội tụ đầy đủ khí thiêng của đất trời đó. Ông lại xuất thân trong một gia đình Nho giáo. Vị thủy tổ của dòng họ Đậu Xuân Viên từng làm quan dưới triều hậu Lê được phong đến chức Thiếu bảo, theo gia phả gốc dòng họ Đậu - Xuân Viên.  Được sinh ra trên vùng đất địa linh sinh nhân kiệt, lại thừa hưởng truyền thống gia phong của một dòng họ danh giá, Đậu Vĩnh Trường sớm bộc lộ tư chất hơn người, đặc biệt nổi bật về sức khỏe và chí hướng võ nghiệp.

%3fnh nhà th%3f danh nhân ð%3fu vinh tru%3fng.jpg -0
Nhà thờ danh nhân Đậu Vĩnh Trường.

Lúc còn trẻ, Đậu Vĩnh Trường nổi tiếng khỏe mạnh hơn người, thường đi chăn trâu ngoài đồng. Mỗi buổi sáng trước khi ra đồng, ông thường đắp một đống đất trước nhà để ôn luyện võ nghệ. Ra đến đồng, ông lại đắp một mô đất ở đồi Bạch Sa, gọi là mô Cậu Hàn (thuộc khu vực Phôi Phối - Bãi Cọi), làm nơi tập võ; nhiều khi từ sáng đến chiều chuyên tâm rèn luyện rồi mới dắt trâu trở về.

Tương truyền, ông còn nuôi một con chó, thường cho ăn no rồi cho chạy để tự mình đuổi theo bắt, lấy đó làm cách rèn luyện sức bền và sự nhanh nhẹn. Lớn lên, nghe tin trong núi có con mãng xà thường hại người, ông mang dây mây đến chỗ rắn và thét lớn, rắn nghe tiếng, bò ra, ông thở phì bụng cho rắn cuốn, sau đó ông lấy hai đoạn dây buộc cố định các điểm rồi nín hơi thở xẹp bụng, rắn tự rơi xuống đất. Ông lấy gậy xốc mang về, làm thịt chia cho người trong xóm, ai cũng thán phục ông và lấy làm lạ.

Trong gia đình ông có con trâu bất kham, ông dắt trâu ra cày ở ruộng sâu đồng Bàu Chăm. Trâu dở thói bất kham, ông quản không được, bèn giết trâu rồi gánh về nhà. Sợ bị phạt, ông trốn nhà, ra ở Kinh thành Thăng Long, ở trọ trong gia đình nhà ông cụ Thị, vừa làm thuê kiếm sống, vừa tìm người học võ. Nhân dịp nhà vua mở hội thi võ để tuyển chọn người tài, ông tham dự kì thi, được chọn vào làm quan thị vệ ở kinh thành.

Ông có năng khiếu giỏi bơi lặn. Có lần chơi ở kinh thành, gặp vua trên đường hồi cung có con ngựa yên vàng, dây cương ngọc đang uống nước ở hồ Thủy Quân, bỗng có con thuồng luồng nhảy lên, cuốn cả ngựa và yên xuống nước. Kỵ binh không làm gì được, bèn kêu gọi ai giỏi bơi lặn, cứu được ngựa sẽ ban thưởng 100 quan tiền. Đậu Vĩnh Trường hưởng ứng, cầm vài con dao sắc lặn xuống, phút chốc nước văng tung tóe lên. Lúc sau, ông đã ôm được cả ngựa và thuồng luồng lên khỏi mặt nước. Vua nghe tin, triệu vào cung đặc ban cho chức Xuất sĩ, đặc biệt xem như một võ quan thực thụ. (Theo sách “Nghi Xuân địa chí” của Lê Văn Diễn, UBND huyện Nghi Xuân xuất bản năm 2001, tr 174, 175)

Lúc bấy giờ cuộc chiến tranh giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài xảy ra liên miên, vùng đất Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình trở thành trận địa của tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn. Tháng 8 năm Vĩnh Thọ thứ 3 (1660) nhà Nguyễn cho quân vượt sông tiến đánh và xâm chiếm đến vùng đất xã Mỹ Dụ (thuộc Hưng Nguyên). Quân Trịnh thua chạy, tướng Trịnh Lương chết tại trận. Quân Nguyễn truy bức tới xã Hoa Viên (Nghi Xuân ngày nay).

Lúc bấy giờ thế quân Nguyễn đang mạnh, cách sông đối lũy với quan quân Lê - Trịnh. Trước tình hình đó, Thống lĩnh quan Phú quận công Trịnh Căn cùng với những tướng tài giỏi trong tay, lên kế hoạch đánh quân Nguyễn. Tháng 9, quân Trịnh chia là 2 đường, một nhánh vượt sông Lam tiến đánh, một nhánh từ cửa biển Đan Nhai, Hội Thống đánh lên, Thống lĩnh quan Phú quận công Trịnh Căn đích thân đem quân lên núi Dũng Quyết chỉnh bày thế trận, xem xét quân cơ, chia sai quân tiếp chiến. (Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, NXB Văn hóa Thông tin, xuất bản năm 2003).

Lúc bấy giờ Đậu Vĩnh Trường được giữ chức quản đội Tứ hùng. Ông là người sinh ra và lớn lên trên vùng đất Hoa Viên, huyện Nghi Xuân, trấn Nghệ An. Là người biết rõ địa hình vùng đất này, ông đã xung phong dẫn quân đi đầu. Sau khi vượt qua cửa biển Hội Thống, quân Trịnh tiến thẳng qua vùng đất Tả Ao, tiến đánh gấp quân Nguyễn ở vùng núi An Lạc. Trước khí thế đang lên của quân Trịnh, quan quân tiến như vũ bão, phá được lũy quân Nguyễn, đồng thời phóng hỏa đốt cháy doanh trại, thu được nhiều khí giới, voi ngựa.

Sau khi đuổi được quân Nguyễn ra khỏi vùng đất Nghi Xuân, tháng 11 năm 1660, thống lĩnh quan Phú quận công Trịnh Căn cùng các tướng lĩnh lên kế hoạch tiến đánh quân Nguyễn ở vùng đất Thiên Lộc. Ngày 17/11 một nhánh quân Trịnh với sự chỉ huy của các tướng tài giỏi trong đó có Đậu Vĩnh Trường dẫn quân từ bờ biển qua đất Cương Gián (nay thuộc xã Cổ Đạm) tiến lên, một nhánh theo đường bộ qua Lũng Trâu, Mạn Trường tiến đi. Đồng thời sai tướng lĩnh ở các đạo điều chỉnh quân lính ngày đêm công kích bốn mặt nhằm làm cho giặc hoang mang không biết trở tay làm sao. Quân Nguyễn thua to, chạy về cố thủ ở cửa biển Nhật Lệ, triều đình Lê - Trịnh thu lại được hết 7 huyện ở Nam Hà (7 huyện ở bờ Nam sông Lam).

Tin thắng trận được báo trở về, các thuộc tướng có công đều được triều đình phong tặng thưởng chức tước. Đậu Vĩnh Trường được thăng chức Đô chỉ huy sứ, tước Tuấn Lương hầu, hàm Chánh Tam phẩm.

Bước vào con đường phò vua giúp nước, Đậu Vĩnh Trường đã cống hiến tất cả tài lực, trí tuệ giúp triều đình bảo vệ đất nước, dẹp yên các cuộc nổi loạn, giúp cho nhân dân ổn định cuộc sống. Với những công lao đóng góp của ông, năm thứ 8 niên hiệu Cảnh Trị (1670) triều đình Lê - Trịnh thăng cho ông chức quan võ, tòng Nhị phẩm. Đến năm thứ 4 đời Vĩnh Trị (1679) gia phong chức Tham đốc Toán Nham hầu.

Theo gia phả dòng họ Đậu ghi lại rằng, sau khi thành danh ông trở về thăm quê, qua đò Yên Lạc (bến Da Lách sông Lam), nghe tin ở khúc sông này có con thuồng luồng thường nổi lên lật đò hại người, ông cầm dao nhảy xuống sông đuổi giết được thuồng luồng. Từ khi thuồng luồng bị giết, người dân qua đò sông Lam không còn nơm nớp lo sợ, dân chài ngày đêm tung lưới bắt cá trên sông, cuộc sống của người dân hai bên bờ sông Lam bình yên trở lại. Nhưng sau lần đó, ông bị nhiễm độc thuồng luồng nặng rồi mất vào ngày 24/5, không rõ năm mất. Sau khi ông mất, triều đình Lê - Trịnh cử quan quân về làm lễ an táng theo nghi thức quốc gia, chọn đất an táng và lập đền thờ, ông hiển linh, được nhân dân tôn là Thành hoàng làng làng Hoa Viên.

Có thể nói, cuộc đời và sự nghiệp của Đậu Vĩnh Trường là sự kết hợp đặc biệt giữa yếu tố lịch sử và huyền thoại dân gian. Trong phương diện lịch sử, ông là một võ tướng có thực, lập nhiều chiến công trong giai đoạn chiến tranh Trịnh - Nguyễn khốc liệt ở thế kỷ XVII. Trong phương diện văn hóa dân gian, ông được nhân dân thần thánh hóa như hình tượng người anh hùng phi thường, biểu tượng của sức mạnh, lòng quả cảm và tinh thần bảo hộ cộng đồng.

Sự hiện diện lâu bền của ông trong ký ức lịch sử và tín ngưỡng dân gian cho thấy vị trí đặc biệt của Đậu Vĩnh Trường trong đời sống văn hóa vùng đất Nghi Xuân nói riêng và Hà Tĩnh nói chung. Nhà thờ và mộ Đậu Vĩnh Trường đã được xếp hạng là di tích cấp tỉnh tại quyết định số 2260/QĐ-UBND ngày 12/8/2016.

Ngày nay, việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản liên quan đến Đậu Vĩnh Trường không chỉ góp phần làm sáng rõ thêm chân dung một nhân vật lịch sử địa phương tiêu biểu mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần thượng võ và niềm tự hào về quê hương cho các thế hệ hôm nay.

Nguyễn Minh Đức

Các tin khác

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.

Nữ sĩ Phan Thị Thanh Nhàn: Thơ tình thầm lặng tỏa hương

Nữ sĩ Phan Thị Thanh Nhàn: Thơ tình thầm lặng tỏa hương

Trong nền thi ca đương đại Việt, nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn là gương mặt nữ tiêu biểu chiếm được cảm tình đặc biệt của bạn đọc. Thành công nhất ở chị là mảng thơ tình yêu bởi sự đa dạng, tinh tế, đậm một phong cách riêng.