Kỷ niệm 200 năm ngày mất Nguyễn Du (1820-2020):

Đại thi hào trong mắt văn nhân

Đại thi hào Nguyễn Du (1765-1820) cùng các tác phẩm của ông từ lâu đã là niềm tự hào chung của bao người Việt Nam yêu văn học. Nhiều tác phẩm của Nguyễn Du mà đặc biệt là “Truyện Kiều” đã vượt ra khỏi biên giới lãnh thổ Việt Nam để đến với nhiều bạn đọc, nhiều quốc gia trên khắp thế giới.

Năm nay, chúng ta cùng nhớ về Nguyễn Du nhân kỷ niệm tròn 200 năm ngày mất của ông, tôi bỗng nhận ra con người Nguyễn Du, cuộc đời Nguyễn Du đã trở thành nguồn cảm hứng lớn lao cho biết bao thi phẩm trong văn chương Việt Nam.

Năm 1965, khi đất nước còn đang trong thời kỳ kháng chiến với nhiều gian khổ, một hội thảo quốc gia kỷ niệm 200 năm ngày sinh Nguyễn Du (1765-1965) được tổ chức một cách trang trọng. Cũng từ hội thảo này, nhiều tham luận và thi phẩm đã được ra đời. Điển hình trong số những bài thơ gửi tới hội thảo này, phải kể đến “Kính gửi cụ Nguyễn Du” của Tố Hữu và “Bài học nhỏ về nhà thơ lớn” của Tế Hanh.

Tố Hữu đã viết bài thơ “Kính gửi cụ Nguyễn Du” bằng 34 câu lục bát, như thể có ý kín đáo nhớ về kiệt tác “Truyện Kiều”. Và quả nhiên, trong bài thơ cũng có những câu lẩy từ “Truyện Kiều” của đại thi hào, chẳng hạn: “Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng”, “Mai sau dù có bao giờ”, “Đau đớn thay phận đàn bà”...

Tố Hữu không chỉ bày tỏ niềm đồng cảm với Nguyễn Du mà còn đồng cảm sẻ chia với những nhân vật Nguyễn Du tạo nên mà điển hình hơn cả là Thúy Kiều: “Nửa đêm qua huyện Nghi Xuân/ Bâng khuâng nhớ cụ, thương thân nàng Kiều/... Nỗi niềm xưa nghĩ mà thương/ Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng”.

Giá trị tác phẩm của Nguyễn Du, tấm lòng nhân đạo yêu thương con người của Nguyễn Du là điều chắc chắn còn sống mãi: “Tiếng thơ ai động đất trời/ Nghe như non nước vọng lời nghìn thu”. Những câu thơ của Nguyễn Du còn nuôi dưỡng tâm hồn mỗi chúng ta, là hành trang cho chúng ta vào đời: “Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du/ Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày”.

Bài thơ cũng gắn với hoàn cảnh lịch sử cả đất nước gian lao vẫn còn chưa thôi bom đạn. Và cuộc kháng chiến của cả dân tộc cũng là để hướng đến một cái đích làm cho cuộc sống mỗi người Việt được tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn, đúng như ý nguyện của người xưa: “Sông Lam nước chảy bên đồi/ Bỗng nghe trống giục ba hồi gọi quân”. Còn với Tế Hanh, cuộc đời và tác phẩm của đại thi hào Nguyễn Du đã đem đến cho ông một bài học thấm thía về sự giản dị của con người nhưng sâu thẳm của tác phẩm. Ông về thăm đất Nghi Xuân, hỏi tên Nguyễn Du thì người dân chẳng biết đó là ai nhưng hỏi tác giả “Truyền Kiều” thì ai ai cũng nhớ, cũng yêu, cũng thuộc: “Những câu thơ thành ca dao tục ngữ/ Ru hồn ta như tiếng mẹ ru nôi”. Và rồi cuối cùng, Tế Hanh khẳng định: “Hãy đi con đường vào trái tim bạn đọc/ Người ta có thể quên tên người làm thơ nhưng đừng để quên thơ”.

Đầu thập niên 80, cụ thể là vào mùng 7 tháng 3 năm 1982, nhà thơ Vương Trọng trong một lần về Nghi Xuân đã tìm đến viếng mộ Nguyễn Du. Ông xúc động viết nên bài thơ “Bên mộ cụ Nguyễn Du” bằng những câu lục bát xót xa, thương cảm khi thấy nấm mồ của đại thi hào đơn sơ nhỏ bé nằm lọt trong vùng cồn bãi trống chênh, đơn sơ như bao nấm mộ bình thường khác: “Lặng im bên nấm mộ rồi/ Không tin mình đã tới nơi mình tìm/ Không cành để gọi tiếng chim/ Không hoa cho bướm mang thêm nắng trời/ Không vầng cỏ ấm tay người/ Nén hương tảo mộ cắm rồi lại xiêu”.

Âu cũng một phần vì đất nước vừa ra khỏi cuộc chiến chưa lâu, còn đang đối mặt với muôn vàn khó khăn về đời sống. Kết thúc tác phẩm, nhà thơ Vương Trọng mơ ước: “Bao giờ cây súng rời vai/ Nung vôi, chở đá tượng đài xây lên/ Trái tim lớn giữa thiên nhiên/ Tình thương nối nhịp suốt nghìn năm xa”. Ước mơ ấy phải chờ đến 7 năm sau mới trở thành hiện thực, mộ phần thi hào vào năm 1989 đã được xây dựng khang trang, đẹp đẽ.

Sau Tố Hữu và Vương Trọng, ở những thập niên sau đó trong văn chương Việt, tiếp tục có những nhà thơ dùng thể lục bát để nhớ tới Nguyễn Du. Bằng Việt năm 1993 có bài “Đọc lại Nguyễn Du” như để nhân đó chia sẻ những tâm sự, câu chuyện của chính cuộc đời mình, khi ông chợt cảm thấy thơ ca chữ nghĩa đôi khi chẳng cứu nổi cuộc sống của một con người: “Mê say là chuyện đã đành/ Biết đâu tỉnh lại, nhân tình trắng phau... Rạc rài chút phận văn chương/ Cao sang nhòe lẫn tầm thường... ngẩn ngơ”.

Thì chính Nguyễn Du cũng từng có hai câu thơ chữ Hán, cảm khái về chuyện văn chương chữ nghĩa bất lực trước cuộc đời: “Nhất sinh từ phú tri vô ích/ Mãn giá cầm thư đồ tự ngu” (Một đời chuyên về tứ phú, biết rằng vô ích/ Đàn sách đầy giá, chỉ tự mình làm ngu mình). Lẽ dĩ nhiên sinh ra trong thời loạn, cộng với những bất đắc chí trong cuộc đời, có thể khiến con người đôi khi không khỏi thoát ra những câu chua chát. Nhưng, giá trị tinh thần của những tác phẩm mà mỗi người viết ra được vẫn là một điều có ích biết bao.

Năm 1999, nhà thơ Trần Nhuận Minh có một tứ thơ độc đáo nhân một lần sang thăm đất nước Trung Hoa. Ông đã nhớ về Nguyễn Du cũng qua những dòng lục bát, thấy như bóng dáng Nguyễn Du ở khắp nơi đây. Số phận con người ở thời nào, đất nước nào mà muôn đời chẳng thế, là điều được quan tâm hàng đầu đối với mỗi người cầm bút.

“Truyện Kiều” có gốc từ “Đoạn trường tân thanh”, một thi sĩ thời nhà Minh. Bản thân Nguyễn Du cũng từng có cả một tập thơ mang tên “Bắc hành tạp lục”, viết khi đi sứ bên Trung Quốc. Biết bao mảnh đời lầm than được Nguyễn Du tả lại trong thơ, nói chuyện xứ người mà biết đâu cũng là kín đáo gửi gắm chuyện xứ mình: “Một mẹ cùng ba con/ Lê la bên đường nọ/ Đứa bé ôm trong lòng/ Đứa lớn tay mang giỏ/ Trong giỏ đựng những gì/ Mớ rau lẫn tấm cám/ Nửa ngày bụng vẫn không/ Áo quần thật lam lũ” (“Sở kiến hành”, bản dịch Nguyễn Hữu Bổng). Và Trần Nhuận Minh xót xa cảm khái: “Đến đâu con cũng gặp người/ Xin dâng chén rượu giữa trời Trung Hoa.../ Thời nào thì cũng như nhau/ Nỗi buồn li biệt, nỗi đau dối lừa.../ Cõi đời đâu cũng long đong/ Văn chương bạc phận, má hồng vô duyên”.

Sang đến năm 2008, Nguyễn Việt Chiến vẫn qua lục bát thêm một lần nhớ đến Nguyễn Du. Nhà thơ tưởng tượng ra cuộc gặp gỡ với thi hào, chia sẻ những tâm sự mà Nguyễn Du đã gửi gắm vào bao con chữ: “Đêm mưa gặp Nguyễn trên sông/ Đầu đội nón lá, chân không mang giày/ Ông ra câu cá sông này/ Một chiếc cần trúc phất đầy mưa đêm”.

Giọng lục bát của Nguyễn Việt Chiến không đau đáu xót xa như nhiều tác giả đi trước đã viết về Nguyễn Du, thay vào đó lục bát Nguyễn Việt Chiến mềm mại, tươi trẻ hơn, ông tưởng tượng ra Nguyễn Du cũng từng yêu và tình yêu đôi lứa cũng góp phần làm nên sức hút trong bao tác phẩm mà Nguyễn Du để lại: “Có cô gái trẻ làng bên/ Ra sông giặt lụa vào đêm Nguyễn về/ Thế rồi đêm ấy bờ đê/ Mưa thì đã tạnh, trăng thề đã rơi/ Hình như họ đã thành đôi/ Sông thơ chảy suốt một trời Nguyễn Du” (Nguyễn Du).

Chế Lan Viên, Nguyễn Khoa Điềm lại có những cách tiếp cận khác khi nghĩ về Nguyễn Du, viết về Nguyễn Du. Chế Lan Viên vừa khằng định những giá trị mà Nguyễn Du để lại nhưng ông cũng đau đáu nhiều hơn về cái thời mà ông đang sống, về cuộc sống mỗi con người của chính hôm nay: “Những kỷ niệm Nguyễn Du chỉ thỏa lòng ta thôi/ Chớ ích gì cho ông nữa?/ Mái tóc ông hoa râm thì đã hoa râm rồi/ Thuốc nào cứu chữa?/ Đòi ăn hoa cúc thay cơm trừ bữa/ Ta có thương ông thì ông cũng đã chết lâu rồi” (“Kỷ niệm Nguyễn Du”).

Còn Nguyễn Khoa Điềm cũng đưa cái nhìn có nhiều tương đồng khi khẳng định về những lát cắt của lịch sử: “Người ta nhớ đến ông chỉ là nhớ chính mình/ Từng vỡ tan trong u hoài lịch sử/ Ông đã mất/ Không trở lại/ Hiểu theo mọi nghĩa” (Nguyễn Du)

Như đã nói ở phần đầu bài viết, Nguyễn Du và các tác phẩm của ông đã vượt ra khỏi biên giới Việt Nam để đến với biết bao bạn đọc trên toàn thế giới. Và một trong những thi sĩ nước ngoài đã viết thơ về ông. Đó là nhà thơ Hungary Hollo Andras với bài thơ mang tên “Từ những điều Nguyễn Du dạy”, nhân đọc “Truyện Kiều” dịch sang tiếng Hungary. Ông đồng cảm với vấn đề số phận con người mà Nguyễn Du đã đặt ra, đồng cảm với tấm lòng yêu thương của Nguyễn Du dành cho bao kiếp lầm than và khẳng định sức sống bất diệt của tác phẩm: “Anh đừng nói: Trời cao/ Xin hãy nói: Màn xanh trùm bể khổ/ Anh đừng nói: Đất dày/ Xin hãy nói: Rạn nứt và sụp đổ/ Anh đừng nói: Ngôi sao/ Xin hãy nói: Giọt máu đào ai chảy/ Anh đừng nói: Những điều trông thấy/ Xin hãy nói: Tội lỗi các anh, tội lỗi chúng ta.../ Anh đừng nói: Hoàng hôn/ Xin hãy nói: Niềm nuối tiếc muộn màng/ Anh đừng nói: Suối vàng/ Xin hãy nói: Tơ đời không thể dứt” (Trương Đăng Dung dịch).

Thực ra không phải đợi đến những thập niên 60 của thế kỷ 20 mới có những văn nhân viết về Nguyễn Du. Ngay vào năm 1820, Mộng Liên Đường chủ nhân đã viết một bài tựa cho “Truyện Kiều”, thể hiện những đồng cảm sâu sắc với những nỗi niềm của Nguyễn Du: Nếu không phải là con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời, thì tài nào có cái bút lực ấy. Bài tựa được viết vào tháng 2 năm Minh Mệnh, nghĩa là 6 tháng trước khi Nguyễn Du qua đời. Có một người đương thời hiểu về mình như vậy, hẳn Nguyễn Du cũng yên lòng khi giã từ cõi thế.

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?