Cuốn sách của người y sĩ phương Tây đầu tiên trong phủ Chúa Nguyễn

Có lẽ Võ vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) là vị Chúa Nguyễn đầu tiên sử dụng một người phương Tây làm thầy thuốc riêng cho mình. Jean Koffler là một giáo sĩ dòng Tên (Jésuite), sinh ở Prague (Tiệp Khắc) ngày 19-6-1711. 

Năm 1739, Koffler sang Macao và năm sau, đến Đàng Trong rồi ở lại đây suốt 14 năm, trong đó có 7 năm phục vụ trong phủ Chúa Nguyễn, trước khi chịu chung số phận với nhiều giáo sĩ khác, bị tống giam và bị trục xuất khỏi Đàng Trong vào năm 1755.

Mười một năm sau, tức năm 1766, Koffler lại bị tống giam ở Lisbonne (Bồ Đào Nha). Ông đã sử dụng thời gian trong tù để ghi lại những hồi ức về khoảng thời gian khá dài đã sống ở Đại Việt. Tác phẩm này được một giáo sĩ thuộc Hội truyền giáo quốc ngoại là V. Barbier dịch ra tiếng Pháp dưới nhan đề "Description historique de la Cochinchine" (Miêu tả lịch sử xứ Đàng Trong). Tác phẩm gồm 7 chương, miêu tả một cách sinh động và khá đầy đủ các sinh hoạt cung đình, điều mà chính sử chỉ nói đến qua loa bằng những dòng sử biên niên khô khan và cứng nhắc.

Nhân vật quan trọng sau Chúa Nguyễn là vị thế tử, người sẽ kế nghiệp chúa. Người này thường là con trai trưởng, nhưng cũng có trường hợp chúa chọn con thứ làm thế tử do người này thông minh, đĩnh ngộ hơn và được chúa sủng ái hơn. Thường, vị thế tử được giao trấn thủ Quảng Nam, địa phương trọng yếu của xứ Đàng Trong, nơi có Hội An, trung tâm giao dịch ngoại thương lớn của cả xứ. Năm 1644, chính thế tử Dũng Lễ hầu Nguyễn Phúc Tần, trấn thủ Quảng Nam, đã chỉ huy đoàn thuyền chiến đánh tan đội thuyền Hà Lan, trong một cuộc xung đột bất ngờ xuất phát từ việc một thương gia Hà Lan đánh chết một người Việt làm công trong cửa hàng của ông ta.

Thời chúa Võ vương, tình hình kinh tế xã hội đã khá ổn định. Nếu năm 1698, chủ quyền đất nước chỉ mới đến vùng Gia Định, Đồng Nai thì đến năm 1750 đã trải dài tới vùng Cà Mau, Rạch Giá ngày nay. Năm 1744, ông xưng vương hiệu và cải cách nhiều mặt trong đời sống công cộng.

Kinh thành Huế (ảnh có tính chất minh họa).
Kinh thành Huế (ảnh có tính chất minh họa).

Trong lúc từ đời Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng đến đời chúa Nguyễn Phúc Trú (1725-1738), các chúa vẫn giữ tước Công, phong bách thần thì xưng là "Tiết chế các xứ thủy bộ chư dinh đáp phó"; bổ quan lại thì dùng các chữ "thị phó", "thị hạ" và ký là "Thái phó Quốc công", dùng ấn "Tổng trấn tướng quân", thần dân có việc khai trình thì dùng chữ "thân", chỗ chúa ở gọi là "phủ".  Đến đời chúa Nguyễn Phúc Khoát, phủ đổi thành "điện", thân đổi thành "tấu", thay ấn Thái phó Quốc công bằng ấn "Quốc vương", đổi chính dinh làm đô thành (đến thế kỷ XIX, từ Đô thành vẫn còn dùng để chỉ Huế). Đến cuối thế kỷ XVIII, các chúa Nguyễn vẫn dùng niên hiệu của vua Lê trong các văn bản ban hành.

Koffler có dịp ghi nhận nhiều sự kiện thú vị trong phủ chúa. Thời ấy, chúa đã là vua, ai vô cớ nhìn vào mặt chúa sẽ bị khép vào trọng tội. Khi chúa đi ra khỏi điện, mọi người dân không được phép đi ra đường, những ngôi nhà nằm trên đường chúa đi qua phải đóng cửa lại. Quân lính cũng rất cực nhọc. Các đội lính hộ vệ trang bị giáo dài phải đi trước mở đường. Nhiều người cầm những chiếc lọng theo sau chúa, che mát chúa trên suốt cuộc hành trình. Cán lọng làm bằng ngà hay gỗ quí, chóp lọng bằng vàng, vải lọng là lụa hay vải hoa nổi.

Chúa ngồi trên một chiếc ngai có 8 người lực lưỡng khiêng, đi sát cạnh ông để hộ vệ là con của những đại thần bậc nhất trong vương phủ. Vào một dịp nào đó, chúa đi thăm một người bà con lâm bệnh thì từ đó trở đi, nơi ông từng ngồi trong nhà được gia chủ xem là chốn thiêng liêng, không ai dám đến ngồi hay bước qua đó. Nhiều người treo tại chỗ ấy một tấm biển lộng lẫy đề tên chúa và mọi người trong nhà hay khách đến thăm phải tỏ lòng cung kính với tấm biển này.

Đội thuyền rồng của chúa gồm 10 thuyền lớn, mỗi chiếc có 50 tay chèo và 25 thuyền nhỏ, mỗi chiếc 24 tay chèo. Thuyền rồng của chúa được sơn phết tráng lệ, nhất là ở phần mũi và đuôi thuyền. Ở phần mũi có một chiếc mái được chống đỡ bằng bốn cây cột, bên dưới đặt một khẩu súng thần công bằng đồng. Viên tướng chỉ huy đoàn thuyền đứng trên thuyền của chúa cùng một số lính trẻ. Khi thuyền đến bến đỗ đầu tiên, chúa bước lên bờ sụp lạy ba lạy trước mộ phần các chúa Nguyễn đời trước.

Thông thường chúa chỉ xuất hành trên sông mỗi năm một lần, chủ yếu để đích thân thu thuế, có lẽ ông sợ có sự ẩn lậu. Có sự hiện diện trực tiếp của ông, các địa phương không dám bê trễ trong việc hành thu và giao nộp thuế. Trong dịp này, các bà phi cũng được phép tham gia vào đội thuyền rồng của chúa. Họ ngồi trong những chiếc thuyền nhỏ có 14 tay chèo, cửa sổ trong khoang thuyền được gắn mắt lưới nhỏ để họ có thể nhìn thấy bên ngoài, trong khi người bên ngoài nhìn vào không thấy họ.

Các chúa Nguyễn sử dụng nhiều người thiểu số ở Tây Nguyên làm thị vệ vì những người này có sức khỏe và trung thành. Họ có nước da đen bóng và giọng nói không chuẩn tiếng Việt. Họ chia thành bốn đội, rất được mọi người nể nang, kể cả các vương thân và đại thần trong vương phủ. Bên ngoài vương phủ có 25 đội lính luân phiên nhau canh gác ngày đêm. Tổng quân số Đàng Trong thời bấy giờ vào khoảng 20.000 người.

Quan lại hàng nhất phẩm thường do các vương thân (chú bác hay anh em chúa Nguyễn) nắm giữ. Bốn viên quan lớn nhất gọi là Tứ trụ gồm nội tả, nội hữu, ngoại tả, ngoại hữu, hai người được tin dùng hơn cả trong số này được chúa giao điều khiển công việc ở trấn Đô thành, nơi chúa ngự. Hai người còn lại đặc trách việc giám sát công việc các trấn khác. Quan văn thời đó đội mũ tiến sĩ trang điểm bằng những hoa văn thiếp vàng, quan vũ thì đội mũ cong, gắn lông ngựa cứng, cũng trang trí bằng những hoa văn cùng các hạt đá quý. Lưng áo và ngực áo các đại thần thêu hình sư tử màu vàng, trái lại lưng và ngực áo của chúa thì thêu hình con rồng đang dang cánh…

Quan lại hàng nhị phẩm phụ trách việc bảo vệ biên cương, hải cảng. Đông hơn cả là hàng tam phẩm gồm thái giám, ngự xạ, ngự y, chiêm tinh gia, quan lại các trấn… Hàng ngũ hoạn quan rất được sủng ái. Ở Đàng Ngoài, viên Tổng Thái giám xếp hàng chánh tam phẩm, ngang với Đô Ngự sử, chỉ đứng sau Thượng thư (tòng nhị phẩm). Hoạn quan ở Đàng Trong cũng được sủng ái như vậy.

Phẩm trật đã thế, thực quyền của họ còn quan trọng hơn. Tại vương phủ, có ba thái giám quyền uy cao nhất. Trước hết, viên tổng thái giám giữ quyền quản lý ngân khố, thanh toán các khoản chi của vương phủ, phủ Tôn nhơn (cơ quan phụ trách các vấn đề trong vương tộc), và của các phi tần… Hai thái giám khác phụ trách việc thương mại và chỉ có họ mới được bán cho người nước ngoài những mặt hàng quan trọng như vàng, sắt, ngà voi… Họ dễ gây được sự chú ý bởi giọng nói êm dịu và vẻ mềm mại của dáng đi. Mũ của họ có gắn một bông hồng vàng, riêng mũ viên tổng thái giám gắn hình một con sư tử vàng. Ngoài ra, họ đeo một sợi dây bằng lụa trắng rộng khoảng ba phân, buông dài từ ngực xuống thắt lưng.

Thời ấy, khi vị thế tử đến tuổi 20, ông được đưa đến ở một dinh thự riêng dành cho mình, bên cạnh có vị thầy học thường được phong chức danh Thái tử Thái sư và một số thuộc hạ gồm: 8 hay 10 thị đồng, 4 thái giám, 2 hay 3 đội lính, 2 thư ký, một quan lại am hiểu về luật lệ, nghi lễ của vương quốc cùng nhiều người phục dịch khác, cả nam lẫn nữ. Dinh cơ của thế tử nằm ngoài vương phủ.

Việc chúa lâm trọng bệnh hay qua đời thường được giấu rất kỹ trong mấy ngày đầu. Có vị đang đau nặng cũng cố mặc triều phục để chủ tọa cuộc họp mặt các quan. Còn khi chúa nằm xuống, cho dù vị thế tử không có mặt tại vương phủ, cũng không ai thông báo cho ông ta biết ngay. Tổng thái giám đi đóng hết tất cả cửa ra vào vương phủ, nội bất xuất, ngoại bất nhập trong suốt ba ngày, là khoảng thời gian cần thiết để cho thân nhân khóc thương người đã chết mà người dân thường bên ngoài chưa hề hay biết.

Sau ba ngày, viên thái giám mới mở cổng phủ để rước thế tử vào và hướng dẫn đến cạnh thi thể người cha. Sau đó, người ta mới công bố tin buồn cho thần dân biết và thêu tên người kế vị trên một lá cờ, treo lên kỳ đài ở cổng chính dẫn vào vương phủ. Quan lại các cấp, các cơ đội lính tập trung cả ở vương phủ, quỳ lạy và cất tiếng tung hô tân vương. Ở chi tiết này, Koffler có sự nhầm lẫn khi cho rằng tên của chúa Nguyễn đang tại vị là Duc Thanz Thuong (Đức Thánh Thượng).

Lê Nguyễn

Các tin khác

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.