Cuộc đời như tiểu thuyết của một nhạc sĩ tài hoa

Phụ nữ Việt Nam có thể nói không ai không biết bài hát cực kỳ nổi tiếng có tên "Lòng mẹ": "Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào. Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào...". Đây có lẽ là ca khúc Việt Nam hay nhất viết về người mẹ. Tác giả của nó là nhạc sỹ Y Vân (1933 - 1992). Bài hát đã quá quen thuộc. Nhưng tác giả thì công chúng phía Bắc chưa nhiều người biết rõ.

Nhạc sỹ Y Vân có tên khai sinh là Trần Tấn Hậu, ông được sinh ra tại Hà Nội, nhưng có quê gốc ở Thanh Hóa. Mồ côi cha từ bé, bốn mẹ con Trần Tấn Hậu phải tá túc trong một túp lều lụp xụp, xiêu vẹo ở ngõ chợ Khâm Thiên (Hà Nội). Hậu là con cả. 

Hồi nhỏ, từng theo học nhạc GS Tạ Phước - Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Âm nhạc Việt Nam - nay là Nhạc viện Quốc gia Việt Nam (NVQGVN). Lớn lên, ông đi đánh đàn thuê cho các tiệm nhảy, nhà hàng để kiếm tiền giúp mẹ nuôi hai em. Sau năm 1954, ông cùng mẹ và các em vào mưu sinh ở Sài Gòn.

Nhạc sỹ Y Vân (giữa) chơi đàn cùng ban nhạc.
Nhạc sỹ Y Vân (giữa) chơi đàn cùng ban nhạc.

Năm 1953, tròn 20 tuổi, trong đêm Giáng sinh, chàng trai vừa mới lớn lên cùng một người bạn nam đi chơi phố, lang thang đến khu vực Nhà thờ lớn (gần Bờ Hồ). Bỗng chàng nhìn thấy một nàng mặc áo dài vàng, mặt hoa da phấn, cực kỳ xinh đẹp, có dáng tiểu thư khuê các trong dòng người nườm nượp đổ về nhà thờ. Chàng sững sờ, ngẩn ngơ ngắm nhìn. Nhưng rồi cô nàng nhanh chóng mất hút trong đám đông. 

Thật ngẫu nhiên, mấy ngày sau, Hậu vào một hiệu sách. Chưa kịp mua thì thấy người đẹp mặc áo vàng tối hôm trước bước vào hiệu bán đàn bên cạnh. Lập tức chàng rời khỏi hiệu sách, sang cửa hàng đàn, giả vờ hỏi mua sách nhạc, rồi chọn đàn hộ cô gái để lân la làm quen. 

Nhưng cũng chỉ như thế. Mua được đàn, cô gái cảm ơn anh chàng nhiệt tình với mình rồi ra về. Hậu nhút nhát, không dám hỏi địa chỉ, càng không dám đi theo về để biết chỗ ở của nàng. Và ngẩn ngơ, nuối tiếc. 

Những tưởng hình ảnh cô gái đẹp chỉ là một giấc mơ đối với chàng trai si tình. Nào ngờ may mắn lại đến với anh. Ít lâu sau, một người bạn của Hậu tên là Kỳ đưa anh đến giới thiệu với một gia đình giàu có để dạy đàn cho cô con gái của họ. Thì ra cô chính là nàng áo vàng chàng đã gặp hai lần mà chưa thể làm nên "chuyện" gì. Còn gì hạnh phúc hơn được dạy đàn cho người đẹp mình đang mê mẩn! 

Cô gái tên là Tường Vân, rất yêu âm nhạc và mê học đàn nên say sưa lao vào luyện tập và tỏ ra ngưỡng mộ tiếng đàn của ông thầy trẻ. Lửa gần rơm. Thế là bén dễ dàng. Gia đình Vân biết được mối tình chớm nở của đôi trẻ bèn ra sức "phá" vì họ thấy Hậu nghèo, lại vốn dĩ dị ứng với nghề cầm ca trong khi mình danh gia vọng tộc. Họ bắt con gái dừng việc học đàn và cho sang Pháp du học.

Vân phải nghe theo bố me. Thế là mối tình vừa hé nở đã bị dập tắt. Buồn đau, Trần Tấn Hậu sáng tác mấy bài hát đầu tay của mình về người con gái này để đánh dấu mối tình đầu đẹp như mơ nhưng sớm phải tắt ngấm. Đó là các bài: "Tình ta nảy giữa mùa đông"; "Đò nghèo"; "Nhạt nắng"… Hậu bắt đầu ký tên là Y Vân (tức là yêu Vân) từ đấy. Bút danh này được giữ suốt cuộc đời sáng tác của người nhạc sỹ về sau trở nên rất nổi tiếng.

Sau năm 1954, Y Vân cùng mẹ và các em rời Hà Nội vào cư trú ở Sài Gòn. Có lẽ cũng vì ông muốn rời xa nơi đã để lại cho mình một kỷ niệm đau buồn. Vào "Hòn ngọc viễn đông", ông vẫn tiếp tục nghề đánh đàn và dạy đàn, dạy nhạc để kiếm sống. Tiếp mạch sáng tác những bài hát trữ tình lãng mạn, ông cho ra đời nhiều tác phẩm để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người nghe. 

Sau mối tình đầu đổ vỡ bởi sự ngăn cấm của gia đình người mình yêu, Y Vân không rung động được với ai nữa. Đến năm 1959, ở tuổi 26, từ sự mai mối của một người bạn, Y Vân gặp rồi cưới cô Như Hường, lần lượt sinh được 4 người con. Cuộc sống của nhạc sỹ êm đềm, phẳng lặng. Ông sáng tác nên hai bài hát hay về người vợ của mình: "Biển sầu", "Người vợ hiền". 

Như Hường có cô em họ tên là Trần Minh Lâm. Cô này thầm yêu trộm nhớ người nhạc sỹ hiền hậu, tài ba, đánh đàn rất lôi cuốn ngay từ phút gặp gỡ đầu tiên. Rồi tình cảm này mỗi ngày càng mãnh liệt mặc dù cô biết rõ đó là anh rể mình. 

11 năm sau, đến 1970, thấy cô em họ quá yêu chồng mình, không chịu lấy ai, thấy thương em mà Như Hường đã sẵn sàng… nhường chồng, tác thành để Minh Lâm nên duyên với Y Vân. 

Cuộc hôn nhân này khi ấy rùm beng khắp Sài Gòn, bị nhiều người phản đối, cho rằng không thể chấp nhận. Nhưng Như Hường đã chủ động vun vén. Và hai chị em vẫn rất hòa thuận, thương yêu nhau, cùng chăm lo cho người chồng chung để Y Vân phát triển sự nghiệp sáng tác.

Nhạc sỹ Y Vân và người vợ thứ 2, bà Minh Lâm.
Nhạc sỹ Y Vân và người vợ thứ 2, bà Minh Lâm.

Dư luận có phần không đồng tình với "sự kiện" lấy vợ 2 của Y Vân và đồn đại người nhạc sỹ này quá đa tình, đa mang và còn có nhiều mối tình "linh tinh" khác. Bởi họ căn cứ vào những lời ca trong các bài hát như: "Thúy đã đi rồi" và "Cớ sao buồn vậy Kim? Cớ sao sầu vậy Kim?". 

Nhưng chính bà Minh Lâm đã cải chính và thanh minh cho chồng rằng: Nhiều khi chồng bà nghe chuyện của người khác, rồi có cảm xúc, đồng cảm với người trong cuộc mà viết nên những bài tình ca chứ không phải là chuyện của bản thân ông. Gắn bó với chồng, bà phải biết rõ tất cả. Bà Lâm còn nói rằng Y Vân rất hiền và thật thà. Quen biết cô nào ông cũng kể cho vợ. Và ông đã kể tỷ mỷ vì sao có tên Y Vân.

Những năm tháng này, công chúng Sài Gòn đều biết bài "Ảo ảnh" của Y Vân. Sự ra đời của bài hát này cũng rất "tiểu thuyết". Năm 1963, Y Vân đã lấy vợ được 4 năm và đang đứng đầu một ban nhạc nổi tiếng, cũng đã có nhiều bài hát được công chúng ưa thích. 

Một buổi trưa nọ, sau khi thu nhạc ở Đài phát thanh bước ra, nhạc sỹ thấy một chú bé đến làm quen và tha thiết mời vào quán nước ở bên cạnh để chú được tiếp xúc. Nể lời mời của chú bé đáng yêu, ông nhận lời. Khi vào quán, ông thấy một cô gái đang ngồi chờ sẵn. Cô cũng rất xinh đẹp, có đôi mắt to, đen, đượm buồn, toát lên vẻ lãng mạn. Chú bé giới thiệu đó là người chị ruột mình, tên là Huyền, đang là sinh viên Văn khoa. 

Trên ve áo của cô có ghim một mảnh vải đen. Y Vân hỏi thăm để tang ai thì cô nói: "Em không để tang ai mà để tang mối tình của em đó". Y Vân nghe câu nói của Huyền rất muốn hỏi kỹ hơn nhưng nghĩ cô gái sẽ cho mình là tò mò nên thôi. Huyền ghi địa chỉ của mình cho Y Vân và mời nhạc sỹ đến chơi. 

Mấy ngày sau, ông đến nhà Huyền nhưng cô đi vắng, chỉ có cậu em đã mời ông vào quán nước bữa trước ở nhà. Cậu cho biết: Hai chị em là con một gia đình điền chủ ở Long An, được bố mẹ gửi lên Sài Gòn học. Huyền mê âm nhạc, rất thích những bài hát của Y Vân, suốt ngày chỉ mải đàn hát, chểnh mảng việc học hành. Thấy vậy, ông bố bắt Huyền về quê, ép lấy chồng. Cô nhất định không chịu. Vì đã nhận lời bên nhà trai nên ông bố bị bẽ mặt, đã rất tức tối cho đăng báo từ con gái. 

Huyền tâm sự với em trai là đã thầm yêu người nhạc sỹ có những bài hát mình ưa thích từ lâu và quyết định rủ cậu cùng mình bỏ nhà, lên Sài Gòn kiếm việc làm sinh sống. Nhưng khi biết Y Vân đã có vợ, cô găm mảnh vải đen lên ve áo với ý để tang mối tình thầm kín nhưng rất mãnh liệt của mình. 

Khi biết chuyện này, ông vô cùng cảm kích và viết nên bài "Ảo ảnh" với những lời ca não nề, chua xót: "Những ân tình em đong bằng nước mắt/ Khóc cho đầy hai chữ tình yêu/ Phấn hương nồng em xem tựa tấm áo/ Đã thay màu ân ái từ lâu…".

Y Vân rất hiếu thảo với mẹ. Một đêm năm 1959, mẹ ông bưng chậu quần áo ra giặt ở máy nước công cộng. Vì đông nên phải chờ đợi đến quá 12 giờ đêm, bà vẫn còn hì hụi bên máy nước. Do quá lệnh giới nghiêm theo quy định nên bà bị bắt đưa lên "bót". Y Vân đánh đàn suốt đêm, đến gần sáng về nhà. Thấy vậy, ông thương mẹ, vừa khóc vừa viết nên bài "Lòng mẹ" để đời. Ông kể rằng, bản thảo nhòe nhoẹt nước mắt khiến ông không còn nhận ra các nốt nhạc mình đã nghĩ ra.

Năm 1992, Y Vân qua đời, thọ 60 tuổi. Lúc còn trẻ, ông có bài "60 năm định mệnh" nổi tiếng. Không ngờ đó lại là ca khúc mang tính định mệnh của ông. Và cũng thật trùng hợp, ca sỹ Hùng Cường là người đầu tiên hát bài này cũng sống đến năm 60 tuổi thì qua đời. Nhiều người nói: "Giá mà Y Vân không sáng tác và Hùng Cường đừng hát bài này thì có lẽ họ còn sống được lâu hơn".

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.