Cuộc đời đa đoan của một giọng hát huyền thoại

Quốc Hương học thanh nhạc dài hạn chính quy, bài bản tại Hungary, tiếp nhận lối hát ben-căng-tô hiện đại của châu Âu nhưng ông lại tiếp cận, kế thừa một cách tài tình lối hát dân gian khi thể hiện các bài hát Việt Nam với lối hát trường hơi và rơ lời khiến bà con nông dân rất thích nghe ông hát mà không dễ “tiêu hóa” cách hát của các ca sỹ “Tây học” khác. Đó là ưu thế rất lớn của ông...

- Em từ đâu đến với anh? Vì sao em lại yêu và lấy anh?

Trên giường bệnh vào những ngày cuối cùng của cuộc đời mình tại bệnh viện ở TP. Hồ Chí Minh, ca sỹ Quốc Hương đã nói với người vợ trẻ kém mình tới gần 30 tuổi như vậy. Đó là Thu An – người vợ thứ 3 của người ca sỹ tài danh mà cả tiếng hát lẫn cuộc đời đã đi vào huyền thoại. 

Thu An mắt đỏ hoe, không nói gì, chỉ nắm chặt bàn tay của chồng rồi áp lên má mình như cố níu kéo những giây phút được gần gũi bên chồng mà chị biết không còn kéo dài được bao lâu nữa. Trong khoảnh khắc, chị nhớ lại cuộc “lâm tuyền kỳ ngộ” – cuộc gặp gỡ như một định mệnh đã gắn kết mình với người danh ca được công chúng rất ngưỡng mộ cả giọng hát lẫn cuộc đời hoạt động sôi nổi.

Thu An sinh trưởng trong một gia đình trí thức ở Sài Gòn. Mẹ chị là thi sỹ Ngọc Sương, cậu ruột là nhà thơ Bích Khê. Chị từng tham gia tranh đấu trong Phong trào học sinh ở miền Nam trước năm 1975. Chị bị địch bắt, đầy ra Côn Đảo năm chị mới 16 tuổi. Ngày đất nước thống nhất, chị làm Phó bí thư Đoàn Thanh niên quận Bình Thạnh.

Quốc Hương và người vợ Thu An kém mình 29 tuổi.
Quốc Hương và người vợ Thu An kém mình 29 tuổi.

Khi còn hoạt động ở Sài Gòn, Thu An đã rất mê giọng hát của Quốc Hương, đặc biệt là khi ông thể hiện bài “Tình ca” của Hoàng Việt. Một lần quận đoàn mời đoàn ca múa Bông Sen về biểu diễn, Thu An đã được gặp người danh ca mà lâu nay mới chỉ nghe giọng hát chứ chưa biết mặt. Sau ngày miền Nam được giải phóng, Quốc Hương đã trở về Sài Gòn, làm việc cho đoàn Ca múa Bông Sen. Thu An tiến đến trước người nghệ sỹ nổi tiếng, nói: “Cháu từng được nghe chú hát rất nhiều bài qua làn sóng điện. Bài nào cũng hay, đặc biệt bài Tình ca. Lần nào nghe bài này, cháu cũng rưng rưng cảm động. Hồi bị giam ở Côn Đảo, cháu chịu đựng được là nhờ nghe chú hát bài này. Hôm nay chú hãy hát lại bài này cho chúng cháu nghe chú nhé”. 

Quốc Hương đã ngay lập tức đáp ứng nguyện vọng của cô Phó Bí thư quận đoàn trẻ đẹp. Và ông đã hát hết mình, hát như moi hết ruột gan, nhập hồn vào tình cảm của tác giả Hoàng Việt khiến mọi người im phăng phắc lắng nghe. Hát xong, một tràng vỗ tay rất dài vang dậy. Mọi người đề nghị Quốc Hương hát lại. 

Trước khi đáp ứng, ca sỹ tiến đến trước Thu An nói: “Bài này, anh hát tặng riêng em đó”. Cô gái xưng hô “chú, cháu”, nhưng Quốc Hương không bận tâm để rất tự nhiên “anh, em”. Linh cảm cho cô biết người ca sỹ đã “để ý” đến mình và trái tim cô cũng xao xuyến trước vẻ tự nhiên, rất chân thành của Quốc Hương. Sau đó, khi ông hát lại, cô cảm nhận rõ người ca sỹ đã mượn lời bài hát để thổ lộ với mình những điều thầm kín nhất: “Khi hát lên tiếng ca gửi về người yêu quê ta/ Ta át tiếng gió mưa thét gào cuộn dâng phong ba/ Em ơi nghe chăng lời trái tim vọng ra/ Rung trong không gian mặt biển sôi ầm vang…”.

Và đó là lần gặp gỡ đầu tiên giữa Quốc Hương và Thu An để sau đó họ nên duyên, trở thành vợ chồng. Gia đình, họ hàng, bè bạn đều can ngăn Thu An khi cô định gắn bó với một người hơn cô những 29 tuổi. Lúc này Quốc Hương đã 60 tuổi (ông sinh năm 1915). Trong quan niệm của gia đình Thu An, ca sỹ là “xướng ca vô loài”. Nhất là danh ca này lại đã từng trải qua 2 đời vợ. 

Quá nhiều điều khiến mọi người nghi ngại để ra sức ngăn cản Thu An “lao vào bụi rậm”. Nhưng cô vẫn tự tin ở tình yêu của mình, tin ở trái tim rực cháy của người ca sỹ mình ngưỡng mộ. Cô nói với mọi người rằng Quốc Hương không hề già chút nào mà ở bên ông, cô luôn thấy tâm hồn mình được sưởi ấm, bình yên. Quốc Hương khi ấy rất nghèo. Ông không có nhẫn để trao cho người yêu trong ngày cưới. Thu An rất may có chiếc nhẫn nhỏ do một bạn tù tặng cô lúc ở trong khám, bèn đánh làm hai chiếc mỏng. Và họ trao nhau trong ngày vui nhất cuộc đời.

Cuộc chung sống giữa hai người không được lâu bởi hơn 10 năm sau, Quốc Hương qua đời vì căn bệnh ung thư vòm họng. Khi ông vào bệnh viện, Thu An đã phải bán hết đồ đạc trong nhà để lấy tiền chữa bệnh cho chồng, trong đó đáng giá nhất là cây đàn pi-a-nô để lại cho đứa con thơ. Sau khi ông qua đời, Thu An đã gắng tích lũy, dành dụm tiền chuộc lại. Và cô con gái An Hương đã gắn bó với cây đàn này suốt từ đó đến nay.

Sinh ngày 21/8/1915 tại quê hương Kim Sơn (Ninh Bình) nhưng do gia cảnh quá nghèo khó, đến năm 17 tuổi, Quốc Hương phải sớm lưu lạc vào Sài Gòn kiếm sống bằng đủ mọi nghề lam lũ như đánh giày, công nhân xe lửa, bốc vác, thủy thủ… Năm 1944, chàng thanh niên giác ngộ cách mạng đã hát vang bài ca “Tiếng gọi thanh niên” của Lưu Hữu Phước tại rạp Nguyễn Văn Hảo ở Sài Gòn với giọng hát hừng hực khí thế cách mạng của tuổi trẻ: “Này thanh niên ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng. Đồng lòng cùng đi, đi, đi sá gì thân sống…”. 

Cái tên Quốc Hương nổi như cồn từ đó. Năm 1945, ông tham gia Ban Tuyên truyền ở Sài Gòn – Chợ Lớn chủ yếu làm nhiệm vụ ca hát, khích lệ lòng yêu nước của đồng bào. Những bài ông thường hát những ngày tháng này ngoài “Tiếng gọi thanh niên” như đã nói còn có “Du kích ca” (Đỗ Nhuận), “Cùng nhau đi hồng binh” (Đinh Nhu), “Cờ Việt minh” (Vương Gia Khương), “Diệt phát xít” (Nguyễn Đình Thi), “Phất cờ Nam tiến” (Hoàng Văn Thái), “Đoàn vệ quốc quân” (Phan Huỳnh Điểu)… 

Ca sỹ Quốc Hương.
Ca sỹ Quốc Hương.

Kháng chiến chống Pháp bùng nổ tại Nam Bộ, Quốc Hương gia nhập Vệ quốc quân, làm tiểu đội trưởng, vừa chiến đấu, vừa ca hát phục vụ đồng đội khắp các chiến trường khu 7, 8, 9. Đến năm 1954, hòa bình lập lại trên miền Bắc, ông tập kết ra Bắc, để lại Sài Gòn người vợ trẻ và đứa con đầu lòng. Đằng đẵng bao năm hai người biệt vô âm tín, người vợ này đã lấy chồng khác. 

Quốc Hương được Nhà nước cho sang Hungary học thanh nhạc. Về nước, ông làm việc ở Đoàn ca múa Nhân dân Trung ương (nay là Nhà hát ca múa nhạc Việt Nam). Cuộc đời đưa đẩy ông gặp nữ diễn viên điện ảnh Lịch Du. Hai người có với nhau một cô con gái. Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, với rất nhiều kỷ niệm và nỗi nhớ mảnh đất miền Nam – nơi có những năm tháng tuổi trẻ chiến đấu oanh liệt và ca hát sôi nổi cùng bao đồng chí, đồng đội, 

Quốc Hương trỗi dậy nhu cầu trở về sống tại mảnh đất này. Nhưng Lịch Du phần vì không quen sống xa quê miền Bắc và những người ruột thịt, phần vì nhiều công việc làm phim không thể rời xa, đã không thể theo chồng. Thế là họ buộc phải ra tòa chia tay để kẻ Nam, người Bắc.

Cho đến hôm nay, khi có rất nhiều giọng hát nam được công chúng ưa thích thì Quốc Hương vẫn là một cái bóng trùm lấp. Ông là một trường hợp rất đặc biệt: Thứ nhất, ông sở hữu giọng hát trời phú, có khả năng lay động lòng người mãnh liệt và thứ hai là ông có cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi và quên thân mình. Năm tháng đã trôi qua nhưng nhiều thế hệ công chúng vẫn không thể quên những bài hát đã trở nên bất tử qua giọng hát cao vút, ngọt lịm, cực kỳ cuốn hút của ông với nhiều màu sắc phong phú, nhiều sắc thái tình cảm đa dạng. 

Trữ tình, mượt mà như “Những ánh sao đêm” (Phan Huỳnh Điểu), “Trên đường ta đi tới” (Bửu Huyền), “Hà Tây quê lụa” (Nhật Lai). Ngọt ngào, lắng đọng như “Tiếng hát giữa rừng Pác Bó” (Nguyễn Tài Tuệ), “Cuộc đời vẫn đẹp sao”, “Hành khúc ngày và đêm” (Phan Huỳnh Điểu), “Đất quê ta mênh mông” (Hoàng Hiệp). Sôi nổi, hào hùng như “Tôi người lái xe” (An Chung) và đặc biệt là bài “Tiểu đoàn 307” (Nguyễn Hữu Trí). Quốc Hương thể hiện bài này gây ấn tượng đặc biệt đến mức công chúng phía Nam còn gọi ông bằng một cái tên rất mộc mạc là “Ông ba lẻ bẩy”. 

Trong mọi cuộc biểu diễn lớn nhỏ ở khắp nơi, ông luôn hát từ 2 đến 3 bài, trong đó bao giờ cũng có “Tiểu đoàn 307”. Đây là bài hát có sự hội tụ của 3 người cũng thật đặc biệt. Trước hết là bài thơ “Cửu Long giang” của Nguyễn Bính. Nhà thơ người Nam Định này phiêu bạt vào Nam Bộ để viết nên bài thơ này, đăng trên báo Tổ Quốc của khu 8 hồi đầu kháng chiến chống thực dân Pháp. Nguyễn Hữu Trí là đại đội phó của tiểu đoàn 307 – một tiểu đoàn nổi tiếng ở Nam Bộ lúc bấy giờ - yêu thích sáng tác âm nhạc, thấy bài thơ viết về tiểu đoàn của mình bèn phổ thành bài hát. Và Quốc Hương là một chiến sỹ hoạt động ở khu 8 đã hát bài này ở khắp mảnh đất Nam Bộ khiến ca khúc nhanh chóng lan truyền khắp nơi. 

Quốc Hương học thanh nhạc dài hạn chính quy, bài bản tại Hungary, tiếp nhận lối hát ben-căng-tô hiện đại của châu Âu nhưng ông lại tiếp cận, kế thừa một cách tài tình lối hát dân gian khi thể hiện các bài hát Việt Nam với lối hát trường hơi và rơ lời khiến bà con nông dân rất thích nghe ông hát mà không dễ “tiêu hóa” cách hát của các ca sỹ “Tây học” khác. Đó là ưu thế rất lớn của ông.

Không chỉ là một danh ca, Quốc Hương còn là nhạc sỹ sáng tác nhiều ca khúc trong đó có hai bài nổi tiếng là “Tầm Vu” (lời của Đắc Nhẫn) và “Du kích Long Phú” đều được ông sáng tác lúc hoạt động ở Nam Bộ thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp.

Là một danh ca huyền thoại, Quốc Hương được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sỹ Nhân dân ngay từ đợt đầu tiên (1983).

Ông đã về cõi vĩnh hằng trên ba chục năm nhưng giọng hát Quốc Hương vẫn sống mãi trong tâm khảm của nhiều thế hệ công chúng.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.